Home > Uncategorized > Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (3/4)

Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (3/4)

CARLYLE A. THAYER
KD lượt dịch
Trích từ bộ “Đông Nam Á đương thời” pho thứ 31, Số 1 (2009) trang 1-27
Copyright 2009 ISEAS
ISSS 0219-797X bản in / ISSN 1793-284X bản điện tử


Ông Carlyle A. Thayer là một Giảng viên về bộ môn Chính Trị tại ĐH New South Wales thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc Châu ở Canberra, là một quan sát viên và là nhà phân tích chuyên về Việt Nam được nhiều người biết tiếng trên thế giới, hiện ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Ohio-Hoa Kỳ, về môn Đông Nam Á Học.

Lời người dịch:  Cụm từ “xã hội dân sự” được dùng trong ngữ cảnh của “civil society” mà tác giả sử dụng trong bài này.  Tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng “xã hội dân sự” trong quan niệm của nguời Việt không đồng nghĩa với ý nghĩa của “civil society” của Tây Phương.   Người dịch cũng muốn khuyên bạn đọc nên so sánh với bản gốc bằng Anh ngữ nếu cảm thấy cần phải hiểu rõ ý nghĩa của từng chữ một trong câu văn.  Bản Anh ngữ có thể tìm thấy tại đây: http://www.viet-studies.info/kinhte/Thayer_Civil_Society.pdf


Sự Trỗi Dậy của Xã Hội Chính Trị Dân Sự

Kể từ 4 đến 5 năm qua, có một sự thay đổi rõ rệt trong bản chất xã hội chính trị dân sự tại Việt Nam.  Lúc trước, các nhà đấu tranh chính trị và tôn giáo chỉ hoạt động riêng rẻ hoặc theo từng nhóm nhỏ cách ly với nhau.(38) Nhưng trong những năm gần đây, có một sự phối hợp giữa những nổ lực từ nhiều phía nhằm thiết lập các đoàn thể chính trị dứt khoát chuyên đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, và tự do tôn giáo.  Các tổ chức chính trị được hình thành với con số chưa từng có.(39) Các tổ chức này bị chính quyền xem như là bất hợp pháp và vì thế, họ không có chổ đứng nào trong hệ thống chính trị độc Đảng ở Việt Nam.  Trong số các tổ chức, đoàn thể chính trị này có:

  • Đảng Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam (ĐDCND).  Đảng này được thành lập vào năm 2004 bởi ông Đỗ Thành Công, một cư dân Mỹ gốc Việt sinh sống tại bang Cali (Hoa Kỳ), sau 5 năm liên kết với những người cùng chí hướng trong nước.  Ông Công cũng được biết đến qua biệt danh Trần Nam.  Mạng lưới ĐDCND bao gồm các vị đứng đầu Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông (xem phía dưới).  Ông Công bị bắt giữ vào ngày 14 tháng 8 năm 2006 ở Phan Thiết và bị kết tội âm mưu đánh phá Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở TP HCM.  Cáo trạng này sau đó lại đổi sang phân phát truyền đơn chống chính quyền.  Ông Công bị giam đúng 1 tháng trong tù trước khi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam.  Một thời gian ngắn sau khi ông Công bị bắt giữ, 6 thành viên quốc nội của ĐDCND cũng bị câu lưu.  6 thành viên này đã bị xét xử trước Tòa Án Nhân Dân ở TP HCM.  Trong số đó, thành viên lãnh đạo BS Lê Nguyên Sang, nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo, và LS Nguyễn Bắc Truyền đã bị kết án 5, 4, và 3 năm tù giam theo thứ tự.
  • Đảng Vì Dân Việt Nam (ĐVDVN).(40) Lúc đầu chỉ là một nhóm người ở Hoa Kỳ họp lại với tên gọi ĐVD.  ĐVD được sáng lập ở bang Houston (Hoa Kỳ) bởi ông Nguyễn Công Bằng.  Trong năm 2005, thành viên của ĐVD liên lạc với người Việt quốc nội, kể cả thành viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông (xem phía dưới).  Ông Bằng khuyên họ nên không nên quá lộ diện để có thể thiết lập một mạng lưới liên kết bí mật.  Ông Bằng cho rằng vị thế tranh đấu tích cực trong lúc này chỉ có thể mang đến áp bức và giảm thiểu khả năng thu nạp nhân lực.  ĐVD chỉ thu hút được 1 số nhỏ thành viên quốc nội.  Có ít nhất 3 thành viên của họ bị bắt giữ vào năm 2007:  Mục sư Hồng Trung, đại diện của ĐVD tại Việt Nam (tháng Hai); nhà báo Trương Minh Đức (tháng Năm); và SV Đặng Hùng (tháng Bảy).
  • Đảng Dân Chủ Việt Nam (ĐDCVN): sáng lập tháng 6 năm 2006, là một nhóm thảo luận chính trị do cụ Hoàng Minh Chính dẫn đầu.  Đảng này cũng được biết đến với tên gọi Đảng Dân Chủ Việt Nam thế kỷ XXI (ĐDC XXI).  ĐDCVN tuyên bố họ là sự phục hồi hoạt động của ĐDCVN sáng lập vào năm 1944, một trong 2 Đảng phi-CS được trình diện trước Quốc Hội cho đến lúc bị giải thể vào năm 1985.  Cụ HMC được huấn luyện từ Moscow, là cựu viện trưởng viện Triết học thuộc Viện Khoa học Xã hội VN.  Cụ bị cáo buộc tội kêu gọi cải cách dân chủ theo Liên Xô, bị tù giam và rồi được thả vào năm 1967.  Cụ tiếp tục đấu tranh cho những thay đổi chính trị và lại chịu cảnh giam cầm năm 1981 và 1995.

Cụ HMC đã nắm giữ chức vụ Tổng Thư Ký của ĐDCVN từ năm 1951-1956.  Cụ đưa ra kế hoạch khôi phục lại ĐDC bằng cách cách kêu gọi tinh thần yêu nước của Hồ Chí Minh, một lập trường xa lại đối với các nhà bất đồng chính kiến trẻ tuổi.  ĐDCVN có thể có đến 12 thành viên tại Hà Nội và TP HCM.  Cụ HMC đã được phép sang Hoa Kỳ để chữa bệnh vào năm 2005.  Khi ở Hoa Kỳ, cụ đã có điều trần trước Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ và mạnh dạng chỉ trích cách chính quyền CS đối xử với các nhà đấu tranh dân chủ nhân quyền tại Việt Nam.  Khi trở về Việt Nam, cụ đã được nhiều người ca ngợi cũng như bị đả kích bởi thành phần ủng hộ chính quyền.(41) Còn có LS Bùi Thị Kim Thành bị bắt giữ tại TP HCM trong cuộc đàn áp thẳng tay trước Hội nghị thượng đỉnh APEC và bị khống chế vào BV Tâm Thần Biên Hòa.

  • Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQVN), sáng lập bởi BS Nguyễn Văn Đài.  Tháng 6 năm 2007, kỹ sư Trương Minh Nguyệt và hai nhà đấu tranh khác bị bắt giữ vì phân phát tài liệu tuyên truyền phản động vi phạm Điều khoản 258 của Bộ luật Hình Sự.  Kỹ sư Nguyệt bị kết án 2 năm tù giam bởi Tòa án Tỉnh Đồng Nai.  Bà Nguyệt, một thành viên của MLNQVN đã sử dụng mạng Internet để phát biểu quan điểm của mình về tình hình kinh tế chính trị Việt Nam.
  • Hội Nhà Báo Tự Do của Việt Nam (HNBTDVN) được thành lập bởi tác giả của các trang blog người Việt ở hải ngoại, bao gồm một mạng lưới blogger và các nhà báo bất đồng chính kiến trong nước.  Mạng lưới này thu thập và phổ biến thông tin lề trái ở Việt Nam.  Năm 2006, DNBTDVN đã thử thiết lập một tờ báo điện tử phổ biến thông tin độc lập với nguồn tài trợ từ Viện Quốc Gia Thăng Tiến Dân Chủ Hoa Kỳ.  Công an an ninh Việt Nam đã bắt giữ và thẩm vấn nhiều nhà đấu tranh của HNBTDVN và ít nhất đã cấm cản 1 thành viên tự do xuất ngoại để tham dự một hội nghị quốc tế về quyền tự do ngôn luận.
  • Khối 8406, thành lập ngày 8 tháng 6 năm 2006 (sẽ nói thêm ở phần sau).
  • Đảng Thăng Tiến Việt Nam (ĐTTVN), thành lập ngày 8 tháng 9 năm 2006 bởi Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, và Hoàng Thị Anh Đào.  LM Nguyễn Văn Lý được đề cử làm cố vấn.  Lê Thị Công Nhân là một luật sư thông thạo Anh ngữ đã từng được Lãnh sự quán Anh quốc mời bào chữa cho một phụ nữ Anh gốc Việt bị tố cáo buôn lậu ma tuý.  Chị Lê Thị Công Nhân cũng là một trong những người đã ký tên vào bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ của khối 8406.  Các thành viên sáng lập khác của Khối 8406 cũng cư ngụ tại Huế.  ĐTTVN tiêu biểu cho một thế hệ bất đồng chính kiến với tư tưởng Hồ Chí Minh.  Ngày 8 tháng 9 năm 2006, ĐTTVN đã công bố Cương Lĩnh Lâm Thời kêu gọi dân chủ đa nguyên, tự do tôn giáo, bầu cử tổng quát, và bào vệ tài sản cá nhân.  Năm 2007, ĐTTVN và ĐVDVN đã chính thức hợp tác và lập thành Liên Đảng Lạc Hồng.
  • Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam (LMDCNQVN), thành lập ngày 16 tháng 10 năm 2006 giữa Khối 8406 và Giáo hội Phật Giáo VN Thống Nhất.  Liên minh này được thiết lập theo mô hình Liên Đoàn Toàn Quốc vì Dân Chủ Miến Điện của bà Daw Aung San Suu Kyi.  Sự liên hiệp này được xem là phong trào đấu tranh lớn nhất chưa từng thấy ở Việt Nam kể từ khi quốc gia thống nhất năm 1975.
  • Công Đoàn Độc Lập Việt Nam (CĐĐLVN), thành lập ngày 20 tháng 10 năm 2006 và là công đoàn độc lập đầu tiên của Việt Nam.  Nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Khắc Toàn được công nhận vào chức vị Chủ tịch Ban Đại Diện Lâm Thời gồm có 11 ủy viên: ông Nguyễn Công Lý, ông Ngô Công Quỳnh, bà Nguyễn Thị Phương, ông Trần Hoàng Dương, ông Phạm Sử Thiện, ông Nguyễn Xuân Đạo, ông Trần Hiền Thanh, ông Lương Hoài Nam, ông Lê Trí Dũng, bà Trần Khải Thanh Thủy, và ông Trần Quốc Thủy.  CĐĐLVN liệt kê 3 mục đích chính: bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân Việt Nam; giúp đỡ các công nhân bị tàn phế hoặc có bệnh vì việc làm; và kêu gọi đoàn kết trong giai cấp công nhân.
  • Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông (HHĐKCN), thành lập ngày 30 tháng 10 năm 2006 bởi Nguyễn Tấn Hoành và Trần Thị Lệ Hằng.  Cả hai sáng lập viên này đều có thành tích tranh đấu kêu gọi công nhân đình công.  Trong giai đoạn thành lập, thành viên của hiệp hội này đã liên lạc với Đảng Vì Dân với trụ sở ở bang Houston (Hoa Kỳ).  Sau những khác biệt xảy ra trong đường hướng, HHĐKCN đã liên kết với một tổ chức khác ở hoa kỳ, ĐDCNDVN, và giữ lấy địa vị tích cực hơn theo mô hình của phong trào Đoàn Kết Ba Lan.  Tuy thế, chiến lược chính thức công bố mời gọi sự đàn áp từ phía chính quyền.  Đến giữa tháng 12 năm 2006, sau hội nghị thượng đỉnh của khối APEC ở Hà Nội, 10 trong số các thành phần nòng cốt trong HHĐKCN đã bị giam giữ.  Đến năm 2007, HHĐKCN đã phải trở vào hoạt động bí mật.
  • Liên Đảng Lạc Hồng, thành lập tháng 2 năm 2007 từ sự liên kết giữa Đảng Thăng Tiến VN và Đảng Vì Dân VN.

Nói chung thì các tổ chức chính trị kể trên không có một số lượng thành viên với trụ sở trãi rộng khắp nơi trên toàn quốc.  Tên gọi “đảng phái chính trị” mà họ tự đặt cho mình cũng có vấn đề.  Cho dù vậy, mạng lưới đấu tranh dân chủ của các nhà tranh đấu và các đoàn thể tranh đấu đã liên hợp thành trong năm 2006 được xem là một phong trào chính trị đáng kể, đánh dấu cho một sự phát triển mới trong chính trị Việt Nam.(42) Mạng lưới tranh đấu chính trị này đã ban hành nhiều bản tuyên ngôn kêu gọi chính quyền nhà nước Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền cơ bản, tự do tôn giáo, và cho phép người dân tự do thành lập và gia nhập các đảng phái chính trị khác ngoài Đảng CSVN.(43) Vào ngày 6 tháng 4 năm 2006, 116 người đã đồng ký tên vào bản Appeal for Freeom of Political Association và phổ biến rộng rãi trên toàn quốc bằng mạng Internet.  Ngày 8 tháng 4, 118 người đã đồng ký tên bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho VN.(44) Các  nhà đấu tranh dân chủ này sau đó được biết đến với tên gọi Khối 8406, được đặt theo ngày bản tuyên ngôn ra đời.

Thành viên của Khối 8406 đã xuất bản tờ Tự Do Ngôn Luận 2 tuần 1 lần, bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 năm 2006.  Đây là một tờ báo gồm khoảng 30 trang trên khổ giấy A4 bằng cả hai dạng in và điện tử.  Dạng điện tử của tờ Tự Do Ngôn Luận được xuất bản theo dạng PDF cho tiện việc phổ biến.  Tờ báo này do LM Nguyễn Văn Lý, LM Phan Văn Lợi, và LM Chân Tín biên tập.

Khối 8406 tượng trưng cho một mạng lưới bao gồm nhiều chuyên gia, trí thức khác nhau ở rãi rác khắp nơi trên toàn quốc.  Trong số các người ký tên vào bản tuyên ngôn có 31% là giảng viên và giáo viên, 14% là các linh mục Thiên Chúa giáo, 13% là các giáo sư ĐH, 7% thuộc các nhà văn, 6% là bác sĩ y khoa và 29% còn lại gồm có các trí thức, kỹ sư, y tá, các lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo, thương gia, cựu bộ đội, chuyên viên kỹ thuật, thường dân, và cả 1 luật sư.

Khối 8406 chủ yếu là một mạng lưới ở khu trung tâm thành thị, với hơn phân nữa những người ký tên cư ngụ tại Huế (31%) và TP HCM (15%), những người ký tên khác quy tụ từ Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, và Cần Thơ. 4 thành phố này chiếm 30% chữ ký.(45) Phần còn lại của các thành viên Khối 8406 nằm rãi rác trên toàn quốc ở Bắc Ninh, Nha Trang, Phan Thiết, Quãng Ngãi, Vũng Tàu, và Vĩnh Long.

Hội nghị thượng đỉnh APEC tháng 11 năm 2006 có bao gồm cuộc họp mặt giữa các lãnh tụ quốc gia.  Vì cả thế giới đang chú tâm vào Hà Nội, nhân viên an ninh VN lúc đầu rất thận trọng trong cách đối phó với Khối 8406.  Họ đã gây khó khăn cho một vài người trong số những người nổi bật đã ký tên vào bản tuyên ngôn ngày 8 tháng 4.  Điện thoại nhà của các vị này bị cắt đứt và họ bị theo dõi thường xuyên.  Những người khác được mời đến thẩm vấn và bị bắt giữ trong nhiều khoản thời gian khác nhau.  Các nhân viên bị đe dọa cho nghỉ việc.  Công an cũng đã xông vào nhà các thành viên ký tên khác, lấy đi các máy tính, điện thoại di động, và tài liệu cá nhân.

Hành động của CA đã tạo lên một làn sóng phản đối trong thành phần tranh đấu ủng hộ dân chủ.  Ngày 30 tháng 4, Khối 8406 đã ra một kháng thư với 178 chữ ký lên án hành động của CA an ninh.  Cho đến ngày 8 tháng 5, số người ủng hộ ký tên trong bản tuyên ngôn lên đến 424; và cho đến cuối năm, các quan sát viên nước ngoài cho biết là khối ủng hộ bản tuyên ngôn của Khối 8406 đã hơn 2.000, phần nhiều trong số đó dưới 30 tuổi.(46) Thành viên Khối 8406 đã cố gắng lẫn tránh bị theo dõi bằng cách sử dụng điện thoại digital và kỹ thuật mã hóa trên các trang mạng cung cấp bởi các phần mềm Voice Over Internet Protocol như Paltalk, Skype, và Yahoo! Messenger.(47) Các trang mạng này đã được sử dụng để thiết lập các buổi thảo luận trong nước cũng như ở hải ngoại.

Vào ngày 22 tháng 8 năm 2006, Khối 8406 đã chính thức công bố một tiến trình dân chủ hóa Việt Nam gồm 4 giai đoạn và 8 bước nhằm gầy dựng lại các quyền tự do công dân, thành lập các chính đảng dân chủ, soạn thảo Hiến Pháp mới, và tiến hành bầu cử dân chủ cho một Quốc Hội đại biểu nhân dân.(48) Ngày 12 tháng 10 năm 2006, thành viên Khối 8406 đã viết một thư mở gửi đến các lãnh đạo tại hội nghị thượng đỉnh APEC yêu cầu họ giúp đỡ trong quá trình thúc đẩy xã hội dân chủ cho Việt Nam.  4 ngày sau đó, Khối 8406 đã định chuyển hóa mình thành một phong trào chính trị bằng cách liên kết với Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất trong Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam như đã nói đến phía trên.

Trước hội nghị thượng đỉnh APEC, CA an ninh đã bao vây tư gia của các thành viên Khối 8406 và ngăn cản họ tự do đi lại.  Cùng thời gian, thành viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông cũng bị bắt giữ và đưa ra tòa sau đó.  Sau hội nghị APEC, Việt Nam tiến hành một chiến dịch phối hợp với nổ lực đàn áp Khối 8406.  Có 7 thành viên bị bắt giam, xét xử, và kết tội rong tháng 3 và 4 năm 2007, trong đó có LS Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân.  Án tù của họ sau đó được giảm xuống vào tháng 12.

Các nhà đấu tranh dân chủ khác cũng bị bắt giữ và xét xử trong cùng năm, nổi bật nhất là LM Nguyễn Văn Lý.  Thành phần lãnh đạo của Khối 8406 có vẻ như đã bị hóa giải một cách hiệu quả bởi bộ máy an ninh của Việt Nam.  Rất nhiều trong số những người ký tên vào bản tuyên ngôn, các kháng thư, kiến nghị đã đồng loạt im lặng trước sự đàn áp của chính quyền.  Điều này thể hiện rõ nhất qua kỷ niệm ngày thành lập Khối 8406 năm 2007 và 2008, hai sự kiện đã trôi qua một cách êm ả.

Trong tháng 6 và tháng 7 năm 2007, các nông dân ở tỉnh Tiền Giang đã tổ chức một cuộc biểu tình công cộng kéo dài để kêu oan về việc đất đai bị tước đoạt.  Họ đã quy tụ tại TP HCM trước tòa Quốc Hội và được tháp tùng bởi nhiều ủng hộ viên từ 7 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.  Có một vài điều chung quanh sự kiện này chưa bao giờ xảy ra:  số người tham gia khiếu kiện, sự hiện diện của đồng bào từ nhiều tỉnh khác nhau, cùng với thời gian họ được cho phép để biểu tình và căng biểu ngữ ở các nơi công cộng.

Cuộc biểu tình của đồng bào tỉnh Tiền Giang được trực tiếp theo dõi và thông tin bởi các cơ quan truyền thông ở hải ngoại.  Một số các đồng bào tham gia biểu tình đã trả lời phỏng vấn trực tiếp bằng điện thoại di động với phóng viên báo chí nước ngoài ở Hà Nội và đài Radio Chân Trời Mới do Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (đảng Việt Tân) quản lý.  Hình ảnh các biểu ngữ của đồng bào nông dân biểu tình có thể truy cập được trên trang mạng của đảng Việt Tân.  Cuộc biểu tình kéo dài của đồng bào nông dân Tiền Giang sau đó cũng đã chấm dứt khi CA an ninh bao vây và ép buộc chở họ đi nơi khác trong đêm khuya.  Điều mới lạ từ các vụ biểu tình này là sự ủng hộ có được từ Khối 8406 và Hòa Thượng Thích Quảng Độ từ Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất.

Theo bề ngoài thì Khối 8406 và các đoàn thể xã hội chính trị dân sự xuất hiện trong năm 2006 có vẻ như đã cùng chung số phận với các nhà đấu tranh chính trị của thập niên 1990.  Tuy nhiên, có một yếu tố cần phải được nói đến trong sự phân tích này – đó là vai trò của các nhà tranh đấu cho tự do dân chủ Việt Nam ở hải ngoại, những người đã bắt đầu liên kết với đồng hương của mình ở quốc nội để cung cấp nguồn tài trợ, ủng hộ tinh thần, và hỗ trợ sách lược đối kháng thể chế chính trị độc đảng.(49) Đoàn thể then chốt – nhưng cũng không phải là duy nhất – trong sự phát triển mới lạ này là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, còn gọi là Việt Tân.(50)

Đảng Việt Tân tuyên bố là họ muốn tranh đấu cho một xã hội dân chủ tại Việt Nam theo phương châm bất bạo động trong lúc truyền thông quốc nội miêu tả họ là một tổ chức khủng bố.(51) Cả hai phía truyền thông Việt Nam và Việt Tân đều đồng thời đều hợp nhất về lịch sử cơ bản của Việt Tân.  Việt Tân được sáng lập bởi Hoàng Cơ Minh, nguyên là phó Đề đốc Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.  Ông Minh sáng lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN) vào ngày 30 tháng 4 năm 1980.  Sau đó, ông thành lập Việt Tân vào ngày 10 tháng 9 năm 1982.  Cả hai tổ chức lúc đó đều muốn lật đổ chính quyền CSVN qua chủ trương bạo động.

Cả hai phía chính quyền VN và những người ủng hộ Hoàng Cơ Minh đề đồng ý rằng (MTQGTNGPVN) đã từng âm mưu đánh phá bằng cách đưa người của mình xâm nhập vào Việt Nam qua đường Lào và Cam Bốt.  Một thành viên của đảng Việt Tân đương thời cũng đã cho biết rằng thành viên của Việt Tân sống ở Việt Nam trong thời điểm hoạt động bí mật (1982-1994) có trang bị vũ khí.(52) Phía Việt Nam thì lại tố cáo đảng Việt Tân đã sử dụng vũ khí bạo động cho đến năm 2002 khi họ thuê mướn tội phạm ám sát các viên chức chính quyền.

Ngày 19 tháng 9 năm 2004, tổ chức này tuyên bố giải thể MTQGTNGPVN và cho biết rằng đảng Việt Tân sẽ chính thức hoạt động công khai.(53) Các lãnh đạo đảng Việt Tân công bố cương lĩnh của mình với chủ trương đối đầu bất bạo động nhằm tranh đấu cho xã hội dân chủ ở Việt Nam qua sự hợp tác với các tổ chức cùng chí hướng khác.  Kể từ năm 2004, Việt Tân đã trở nên tích cực trong việc vận động các nghị viên chính trị ở Úc Châu, Á Châu, và Hoa Kỳ.

Trong quý 4 của năm 2006, thành viên đảng Việt Tân ở Hoa Kỳ đã tích cực vận động chính quyền của TT George W. Bush đề cập đến các vấn đề nhân quyền trước hội nghị APEC ở Hà Nội tháng 11 cùng năm.  Một thành viên Việt Tân đã từng điều trần trước Nhóm Nhân Quyền Quốc Hội Hoa Kỳ.  Việt Tân cũng đã vận động các nhà tài trợ quốc tế kết hợp tính minh bạch và trách nhiệm cùng với các chương trình viện trợ của họ tại Việt Nam.  Tháng 3 năm 2007, Việt Tân tổ chức các buổi tập họp toàn thế giới để chống đối làn sóng đàn áp chính trị đang được tiến hành ở Việt Nam vào lúc đó.

Vào khoảng thời gian cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 2007, một rào chắn bằng các bài viết xuất hiện trên báo chí do nhà nước VN quản lý cáo buộc Việt Tân là một tổ chức khủng bố.  Nhưng các bài viết này chỉ có thể vỏn vẹn các chi tiết về hoạt động của MTQGTNGPVN trước khi mặt trận này bị giải thể.  Các bài báo này không có chi tiết gì về hoạt động của đảng Việt Tân sau tháng 9 năm 2004.  Thật ra, khi các cơ quan truyền thông nhà nước Việt Nam bắt đầu chú tâm đến sự phát triển đương thời của Việt Tân, đảng phái này đã báo cáo rằng họ đã thiết lập các tổ chức pháp luật, thương mại, và các chương trình tính dụng vi mô (microcredit) để phát sinh nguồn tài trợ cho các hoạt động của họ tại Việt Nam.  Đảng Việt Tân cũng bị tố cáo là đã kêu gọi tẩy chay các mặt hàng quốc nội cùng các dịch vụ chuyển tiền về Việt Nam.  Tất cả những lời cáo buộc về các hoạt động này hoàn toàn có tính chất bất bạo động trong đó.

Các viên chức an ninh quốc phòng Việt Nam đã cố tình đúc kết các hoạt động chống kháng chính quyền để gán ghép tên gọi khủng bố cho Việt Tân, kể cả những hoạt động chống đối có tính chất hòa bình và bất bạo động.  Người ta cũng không rõ rằng chính quyền nhà nước Việt Nam đã sử dụng điều luật pháp chế nào để cáo buộc đảng Việt Tân là một tổ chức khủng bố.

Các sự kiện của năm 2006 – 2007 tiêu biểu cho sự lớn rộng của các tổ chức xã hội chính trị dân sự  tại Việt Nam; một sự phát triển qua thế lực, qua con số, và mạng lưới liên kết càng ngày càng gia tăng của các tổ chức này.  Bất đồng chính kiến đã trở thành một hình thức tổ chức to lớn hơn với sự xuất hiện của các đảng phái chính trị mới lạ và các liên đoàn thương mại cũng như các tổ chức có khuynh hướng độc lập khác đại diện cho các nhà báo tự do, các nhà tranh đấu nhân quyền, và các cựu tù nhân chính trị.  Sự liên hiệp vẫn còn mới mẻ giữa Khối 8406 và Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, và sự hình thành của Liên Đảng Lạc Hồng là bằng chứng tượng trưng là khoảng trống cách biệt trong quá khứ giữa các tổ chức tranh đấu hiện nay đã dần dần biến mất.

Tuy nhiên, không có một nhận thức rõ rệt nào cho thấy rằng phong trào đấu tranh dân chủ ngày càng vững bền hoặc đang liên kết thành một thế lực có thể trở thành một thử thách lớn đối với chính quyền độc Đảng Việt Nam.  Thành phần chủ chốt của Khối 8406 và các đoàn thể xã hội chính trị dân sự liên đới đã bị đàn áp bởi hệ thống an ninh của Việt Nam, các thành viên của họ buộc phải trở lại hoạt động bí mật.  Dù sao đi nữa thì sự phát triển này là một dấu hiệu báo trước cho tương lai.  Sự xuất hiện của Việt Tân (và các tổ chức khác ở hải ngoại), cùng với quyết tâm theo đuổi chủ trương tranh đấu bất bạo động của Việt Tân, đã đem lại nguồn tài trợ, đào tạo, và các tiềm lực khác cho các tổ chức xã hội chính trị dân sự tại Việt Nam.  Điển hình như việc bắt bớ và xét xử các thành viên Việt Tân vào tháng 12 năm 2006 và tháng 11 năm 2007 là bằng chứng cho thấy đảng Việt Tân đã có thể hoạt động tại Việt Nam.

CHÚ THÍCH

38.    Trích dẫn bài viết “Bất Đồng Chính Kiến và Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam, 1997 – 2002” của t/g Carlyle A. Thayer.

39.    Đoạn này được rút tỉa rất nhiều từ công trình nghiên cứu của Bill Hayton, sẽ được xuất hiện trong quyển sách sắp xuất bản của ông, Một Việt Nam Mới (New Haven: NXB ĐH Yale – Hoa Kỳ, 2009).  Hayton là cựu thông tín viên báo chí của đài BBC ở Hà Nội.

40.    For the People’s Party (FPP)

41.    Cụ Hoàng Minh Chính từ trần ngày 7 tháng 2 năm 2008.

42.    “Việt Nam: Đại Hội Đảng lần thứ 10 và sau đó” của t/g Carlyle A. Thayer trong Các Vấn Đề Đông Nam Á năm 2007, biên tập bởi Daljit Sigh và Lorraine C. Salazar (Singapore: Viện Nghiên Cứu ĐNA, 2007) trang 381-397.  Phần nói về Khối 8406 tiếp theo sau được rút tỉa từ bài viết này.

43.    “Việt Nam: Phong Trào Dân Chủ Đang Cất Cánh bị Đe Dọa” của Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới, ngày 10.5.2006.

44.    “Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho VN năm 2006”, ngày 8 tháng 4 năm 2006.  1 trong những người ký tiên đã rút chữ ký của mình lại, và có thêm 3 người nữa ký vào, nâng con số tổng cộng lên thành 118.

45.    14 vị LM Thiên Chúa giáo ở Huế đã đồng loạt ký tên vào bản tuyên ngôn.  Trong số 9 người từ Hà Nội có LS Nguyễn Văn Đài, nhà bất đồng chính kiến Hoàng Minh Chính, 3 cựu sĩ quan bộ đội (trong đó có cựu biên tập viên của tạp chí Lịch Sử Quân Sự).  Vợ của hai nhà bất đồng chính kiến trong đó là nhà văn và một giáo viên.

46.    “Số Người Bất Đồng Chính Kiến Gia Tăng tại Việt Nam” của t/g Matt Steinglass, tạp chí Tiếng Nói Hoa Kỳ phát hành 16.10.2006.

47.    “Tiếng Nói Bất Đồng Chính Kiến” của t/g Kay Johnson, tờ Time Asia, 29.9.2006.

48.    “Việt Nam Lo Ngại Trước Tiếng Nói Ủng Hộ Dân Chủ Đang Ló Dạng”, đài Radio Free Asia, 26.9.2006.

49.    Vai trò của ĐDCNDVN và Đảng Vì Dân đã được nói đến trong phần trước.  Có thể cho rằng họ không phải là Đảng phái chính trị đáng tin cậy tại Việt Nam vì nguồn gốc lúc đầu ở hải ngoại.  Nhưng trong thời đại toàn cầu hóa với vai trò của các cộng đồng không có uy tín này càng ngày càng được xem như rất quan trọng, việc loại bỏ họ vì lý do trên chỉ tùy người mà thôi.

50.    Tài liệu về Đảng Việt Tân được trích từ bài “Một bài viết về đảng Việt Tân” của t/g Carlyle A. Thayer, BBC World Service, 4.5.07.

51.     “Tổ chứng khủng bố phản động phủ bóng mờ lên xã hội Dân Chủ” của Quốc Minh, Vietnam News Service, 30.3.2007 và bài bình luận “Các đoàn thể hải ngoại đi ngược lại chính sách quốc gia”, đài Tiếng Nói Việt Nam, 2.4.2007.

52.    “Phản hồi Lời Tố Cáo đảng Việt Tân của báo chí ĐCSVN”, đảng Việt Tân, 1.4.2007.

53.    Ngày 28 tháng 10 năm 2003, đài truyền hình ABC ở Úc Châu trình chiếu một buổi phỏng vấn 1 thành viên Việt Tân và tuyên bố rằng đây là lần đầu tiên tổ chức này được công nhận tại Việt Nam.

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: