Home > Lược dịch > Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (2/4)

Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (2/4)

CARLYLE A. THAYER
KD lượt dịch
Trích từ bộ “Đông Nam Á đương thời” pho thứ 31, Số 1 (2009) trang 1-27
Copyright 2009 ISEAS
ISSS 0219-797X bản in / ISSN 1793-284X bản điện tử


Ông Carlyle A. Thayer là một Giảng viên về bộ môn Chính Trị tại ĐH New South Wales thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc Châu ở Canberra, là một quan sát viên và là nhà phân tích chuyên về Việt Nam được nhiều người biết tiếng trên thế giới, hiện ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Ohio-Hoa Kỳ, về môn Đông Nam Á Học.

Lời người dịch:  Cụm từ “xã hội dân sự” được dùng trong ngữ cảnh của “civil society” mà tác giả sử dụng trong bài này.  Tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng “xã hội dân sự” trong quan niệm của nguời Việt không đồng nghĩa với ý nghĩa của “civil society” của Tây Phương.   Người dịch cũng muốn khuyên bạn đọc nên so sánh với bản gốc bằng Anh ngữ nếu cảm thấy cần phải hiểu rõ ý nghĩa của từng chữ một trong câu văn.  Bản Anh ngữ có thể tìm thấy tại đây: http://www.viet-studies.info/kinhte/Thayer_Civil_Society.pdf


Xã Hội Dân Sự có nghĩa gì theo quan điểm của người Việt Nam?

Với tiến trình đổi mới trong thập niên 1980, xã hội Việt Nam bắt đầu thay đổi và theo đó, các mối quan hệ giữa chính quyền và xã hội cũng thay đổi.  Khi được mở cửa với thế giới bên ngoài, các nhà tài trợ và cơ quan viện trợ chính phủ nước ngoài, cũng như các hội đoàn phi-chính-phủ quốc tế, đổ xô vào để giúp đỡ Việt Nam bằng cách áp dụng các mô hình phát triển của họ.  Các mô hình này kết hợp chặt chẽ với quan niệm cho rằng việc ủng hộ các tổ chức phi-chính-phủ tương ứng là biện pháp tốt nhất để dọn đường cho các hoạt động xã hội dân sự trong các thể chế chính trị độc tài nắm quyền.(7) Trong thực hành thì đây có nghĩa là hội nhập với với các tổ chức phi-chính-phủ quốc nội và theo đuổi phương cách tiếp cận “từ dưới lên” nhằm đẩy mạnh đóng góp phát triển, công bình giới tính và sắc tộc.

Vào khoảng thời gian đầu thập niên 1990, hoạt động của các hội đoàn khác nhau ở mọi tầng lớp bùng nổ tại Việt Nam.(8) Giáo sư, kiêm luật gia, Mark Sidel của ĐH Iowa ở Hoa Kỳ đã sáng lập được các mô hình học đầu tiên nhằm nắm vững tính chất phức tạp của sự phát triển này.(9) Sidel đã phân loại các tổ chức này vào 9 loại khác nhau:  (1) các tổ chức độc lập còn mới mẻ chuyên tìm hiểu và truyền dạy chính sách; (2) các mạng lưới của các đoàn thể tích cực trong xã hội và các đoàn thể phục vụ xã hội ở TP HCM và miền Nam VN; (3) các ĐH tư nhân, tựa-tư-nhân/tựa-công-cộng và các trường sư phạm khác; (4) các đoàn thể được hỗ trợ bởi các lãnh đạo lão thành chuyện tài trợ các chương trình huấn luyện và nghiên cứu; (5) các tổ hợp chuyên gia, kinh doanh thương mại; (6) các tập thể và liên hiệp nông dân; (7) các đoàn thể tôn giáo được chính quyền nhìn nhận, không được nhìn nhận; (8) các hiệp hội thương mại và hội đoàn tầm cỡ theo truyền thống Đảng-chỉ-đạo; và (9) các tổ chức tranh đấu chính trị đang thử thách Đảng và nhà nước.  Ông Sidel đã từ chối, một cách rõ ràng và dứt khoát, việc sử dụng cụm từ NGO (tổ chức phi-chính-phủ) để miêu tả các tổ chức này; thay vào đó, ông ta liệt kê họ như là “các nhóm khởi xướng và các tổ chức mới mẻ có định hướng theo chính sách hoặc định hướng phát triển.”(10)

Trong cùng năm, ông Sidel cũng đã sáng lập được một mô hình học dùng để liệt kê các đoàn thể người của người Việt vào một trong 9 loại như sau:  chính trị, hội đoàn có tầm cỡ, kinh doanh, thương mại và chuyên nghiệp, khoa học và kỹ thuật, hội họa và văn hóa, NGO/thiện nguyện, tôn giáo, các hội đồng hương và đoàn thể lo chuyện quần chúng.(11) Trong năm 2003, có 2 mô hình học khác được thiết lập.  Tiến Sĩ người Đức Jörg Wischermann và tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh nhận định 4 thể loại (tầm cỡ, chuyên nghiệp, kinh doanh, có định hướng),(12) trong khi tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul nhận định 5 thể loại (chính trị-chuyên nghiệp, tầm cỡ, nổi tiếng, các trung tâm và trường nghiên cứu độc lập, các hội đoàn độc lập).(13)

Các mô hình học này ở nhiều khía cạnh khác nhau đã bị sự phát triển nhanh chóng của các hội thiện nguyện (phi lợi nhuận) ở tầng lớp nhân dân đuổi kịp.  Các hội đoàn (nhóm) này được các nghiên cứu gia nước ngoài gọi chung là “đoàn-thể-nhân-dân” (ĐTND).  Các ĐTND đã dẫn đầu trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, thúc đẩy phát triển đời sống vững bền, phát sinh thu nhập, và phổ biến kiến thức.  Các thí dụ điển hình của ĐTND gồm có: các tập đoàn thủy điện, các liên hiệp ngân hàng tài chính nhỏ, các nhóm liên quan đến người tiêu dùng, hợp tác nông nghiệp, các hợp tác với mục đích khác, tình nguyện viên trong lĩnh vực y tế, các ủy ban phát triển phường khóm và ủy ban bảo vệ trẻ em lang thang.  Tính đến tháng 7 năm 2005, người ta ước tính Việt Nam có khoảng 140,000 ĐTND, cùng với 3,000 hợp tác (nông nghiệp, công nghiệp nuôi cá, xây dựng, vệ sinh, và y tế), 1,000 “tổ chức phi-chính-phủ (NGO)” hợp pháp và 200 hội thiện nguyện.

Sự phát triển của các ĐTND làm căng thẳng hệ thống luật pháp của Việt Nam trong lúc hệ thống luật pháp này cố gắng xoay trở tìm một cơ cấu điều hành thích hợp với tính đa dạng của các ĐTND này.  Kết quả có được là hàng loạt những qui định và luật lệ chắp vá đặc biệt không đủ khả năng để trở thành một cơ cấu luật pháp toàn diện có thể quản lý sự thiết lập, giấy phép đăng ký, và hoạt động của các ĐTND này.(14) Nhiều ĐTND hoạt động tương đối độc lập với chính quyền nhưng địa vị pháp lý nhập nhằng không rõ ràng của họ luôn đặt họ vào tình trạng nguy hiểm bởi những nhạy cảm chính trị trong xã hội gây ra.

Chương trình Hỗ Trợ Phát Triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Ngân Hàng Thế Giới đến với Việt Nam với mục đích rõ ràng là hỗ trợ xã hội dân sự qua hình thức hùng hạp với các đối tác địa phương.  Các NGO quốc tế (INGO) cũng đặt vấn đề xúc tiến xã hội dân sự thành một phần trong bản tuyên bố mục đích hoạt động của họ nhằm để tìm nguồi tài trợ từ chính phủ của mình cho các hoạt động bên kia bờ đại dương (tại VN).  Nói chung, các đoàn thể trực thuộc hệ thống của Liên Hiệp Quốc, cũng như các nhà tài trợ nước ngoài và các INGO, đã nhanh chóng hoạt động ở nhiều tầng lớp khác nhau với các đoàn thể có tầm cỡ ở trong nước và các đối tác của họ dù cho các đoàn thể tầm cỡ này không chính xác là các đoàn thể phi-chính-phủ (NGO) theo ý nghĩa Tây phương của nó.   Các đoàn thể tầm cỡ quốc nội này là cánh tay nối dài, nếu không phải là cơ quan, của chính quyền.  Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã thiếu óc phê bình khi sử dụng nhóm từ các-tổ-chức-phi-chính-quyền (NGOs) để gọi chung tất cả các đoàn thể, liên hiệp, tổ hợp, hội đoàn đa dạng trong các mô hình học được nói đến phía trên là “xã hội dân sự”.(15)

Theo ông Joseph Hannah,  mô hình xã hội Mác-Lênin gồm có 3 bộ phận: đảng phái, chính quyền, và nhân dân (Xem biểu đồ 1).(16) Người Việt Nam có một khẩu hiệu ai cũng biết đến, đó là “Đảng lãnh đạo, dân nắm quyền, nhà nước quản lý.”  Theo quan niệm chính thức, người dân Việt Nam có quyền thành lập các hội đoàn riêng của họ như các đoàn xã, các hội đoàn theo tên gọi của mình, các trường đua, các câu lạc bộ, và các đội thể thao.  Các đoàn thể này được xem như là “của dân” và thường được gọi là “các đoàn thể có tiếng.”  Tuy nhiên, chính quyền và các đoàn thể có tầm cỡ, đang hăm hở lôi cuốn các nguồn tài trợ và sự ủng hộ của nước ngoài, thường gọi họ là các NGO.(17) Cách gọi này ăn khớp chặt chẽ với chú tâm của các nhà tài trợ nước ngoài và các NGO quốc tế: thiết lập xã hội dân sự tại Việt Nam bằng cách nổ lực phát triển các đoàn thể địa phương được gọi là NGO.

Phương cách tiếp cận được sử dụng bởi các cơ quan Liên Hiệp Quốc, các NGO quốc tế, và các nhà tại trợ nước ngoài đã khiến các đoàn thể xã hội dân sự trở thành một nhu cầu rất lớn ở Việt Nam.  Bất kể sự thật hiển nhiên rằng các đoàn thể người Việt quốc nội thuộc loại được chính quyền đỡ đầu tài trợ và là một phần của ma trận đoàn thể trực thuộc MTTQVN, các đoàn thể này được các tổ chức tương ứng của họ ở nước ngoài gọi là “các đoàn thể phi-chính-phủ”.  Các viên chức chính quyền Việt Nam rất ngại sử dụng nhóm từ NGO khi phát biểu với người dân quốc nội nhưng không dè dặt gì khi giao thiệp với các tổ chức tương ứng ở nước ngoài.  Ông Salemink đã đề cho rằng một trong những lý do đằng sau là vì nhóm từ NGO khi được chuyển ngữ sang tiếng Việt, cụm từ phi-chính-phủ phát âm gần giống như vô-chính-phủ.(18)  Nói một cách khác, nhóm từ NGO theo quốc ngữ ngụ ý tách rời, nếu không phải là chống đối, chính quyền.

Biểu đồ 1

Quan niệm Mác-Lênin về Đoàn Thể Nhân Dân


NGUỒN: Joseph Hannah, Các Tổ Chức Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân Sự, và Quan Hệ Chính Quyền-Nhân Dân (Seattle: Nghị luận tiến sĩ ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007), trang 54.

Các NGO Việt Nam nhìn nhận vai trò của họ rất khác biệt so với các đối tác của họ ở nước ngoài.  Trước hết, họ tự xem mình là cổ phần hùn hạp làm việc trong các kế hoạch phát triển để ủng hộ chính sách nhà nước.  Thứ nhì, họ tự xem mình là những người đã chủ trương cho những cải tiến từ chính quyền.  Cuối cùng, họ tự xem mình là đại diện của các đoàn thể bên ngoài chính quyền và vận động bên lề nghị viện cho các thay đổi trong chính sách nhà nước.  Trong vai trò này, các NGO Việt Nam muốn thương lượng và khuyên bảo viên chức nhà nước thay vì phải đương đầu với họ để đem đến thay đổi.   Nói một cách khác, những hoạt động của họ trực tiếp ủng hộ các chương trình đang hiện hành của Đảng và nhà nước hoặc trực tiếp ủng hộ các chính sách to lớn hơn đã được chính quyền phê chuẩn (như phát triển đất nước hoặc xóa đói giảm nghèo).  Thí dụ điển hình là thành phần lãnh đạo của các tổ chức phi-chính-phủ VN thường xuyên liên lạc với các công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, các công ty nước ngoài hoặc quốc nội có sỡ hữu và quản lý các công xưởng, và các công nhân của những công ty này.  Các NGO Việt Nam đã cố gắng thúc đẩy gia tăng sức khỏe và đời sống của công nhân bằng thái độ tránh đối diện hoặc tránh sử dụng các biện pháp đối đầu.   Như ông Hannah quan sát, “không có khoảng trống xã hội nào cho các phong trào từ các hội đoàn địa phương nhằm chống lại các xí nghiệp bóc lột công nhân thậm tệ”.(19) Các NGO Việt Nam đã giới hạn hoạt động của mình trong phạm vi ngôn ngữ của luật pháp.

Theo ước lượng thì có khoảng hơn 30 trung tâm nghiên cứu phục vụ và giúp đỡ xã hội bằng các kế hoạch phát triển và chương trình nghiên cứu ứng dụng.(20) Các trung tâm nghiên cứu này được thành lập và quản lý bởi các giảng viên giáo sư kiêm hội viên của các trường ĐH, cơ sở cấp tỉnh, hoặc các đoàn thể chuyên nghiệp như Hội Dân Tộc Học hoặc Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam.(21) Tuy vậy, các trung tâm nghiên cứu này có địa vị pháp lý rất yếu.  Các trung tâm nghiên cứu này cũng hoạt động rất chặt chẽ, họ không tuyển nhập thành viên mới như các NGO đúng nghĩa khác.

Phần lớn các trung tâm này được đăng ký với tư cách đoàn thể đại diện theo nghị định số 35-CP (1992) nhằm chỉ đạo các đoàn thể khoa học và kỹ thuật.(22) Các trung tâm này chủ yếu là các đoàn thể phi lợi nhuận, hoạt động rộng rãi trong những phát triển kinh tế xã hội bằng cách hợp tác với các nhà tài trợ nước ngoài.  Họ có thể hoạt động dựa trên các qua hệ cá nhân giữa cấp trên của họ và các viên chức chính quyền.(23) Một loại NGO khác bao gồm nhân viên quốc nội của các NGO quốc tế khác làm những việc tương tự như các trung tâm nghiên cứu.(24) Nhưng vì họ không chính thức đăng ký hoạt động, các vấn đề liên quan đến luật pháp không được rõ ràng minh bạch.

Sự thống trị độc tài lãnh đạo ở Việt Nam đã lùi dần vào hậu cảnh kể từ thập niên 1990 khi các cơ quan do nhà nuớc làm chủ dần dần được thương nghiệp hóa.  Cũng trong ý nghĩa này, các NGO  của người Việt Nam bắt đầu xuất hiện để cung cấp các phục vụ mà chính quyền không còn phụ trách nữa.  Dần đà, vị trí của các NGO này được thay đổi bởi các NGO quốc tế qua sự phát triển của các NGO địa phương.(25)

Hoạt động của các đoàn thể bùng phát tại Việt Nam trong thập niên 1990 không những đã nhanh chóng lấn áp tình trạng độc quyền toàn trị của tể chể độc tài XHCN mà nó còn vượt nhanh hơn những quy chế luật pháp liên quan đến các đoàn thể nhân dân.  Năm 1992 trước sự khởi xướng từ các nhà tại trợ nước ngoài, Bộ Nội Vụ đã bắt đầu soạn thảo pháp chế dối với các tổ chức phi-lợi-nhuận nhằm để quản lý các hoạt động đang nới rộng một cách nhanh chóng từ các đoàn thể tư nhân đang được hình thành.  Mục đích này đã trở thành một vấn đề gây nhiều tranh cãi và trong 7 năm liền, họ đã không đạt được một sự đồng thuận nào.(26) Năm 1995, chính quyền nhà nước Việt Nam bắt đầu soạn thảo một đạo luật cho các tổ chức phi-lợi-nhuận; chỉ tính đến đầu năm 1996, bản thảo nãy đã được chỉnh sửa đến hơn 20 lần.(27)

Trong năm 2002, các viên chức Việt Nam lại thử soạn thảo điều luật cho các tổ chức phi-chính-phủ (NGO).  Và kể đến tháng 7 năm 2005 thì bản thảo đã được chỉnh sửa ít nhất là 10 lần và đổi tên thành Luật về Hội.(28) Bản thảo của đạo luật này không bao gồm các hội đoàn được gọi là NGO của người Việt Nam.  Các chuyên gia quốc gia và hiệp hội thương mại đã cố gắng hoạt động bên lề nghị viện để hoàn thiện các phòng bị trong đạo luật này, làm chậm trễ việc nó được chấp thuận và thực hiện.

Cũng trong năm 2002, 181 NGO quốc tế đang hoạt động chính thức hoặc đang hoạt động qua hình thức có mặt tại Việt Nam đã nhanh chóng chiếm ưu thế trong khoảng không gian dành cho xã hội dân sự.(29) Danh từ “xã hội dân sự” trở thành thông dụng đối với các nhà tài trợ nước ngoài và các NGO quốc tế khi đề cập đến Việt Nam và khi xác nhận rằng các tổ chức được gọi là NGO của người Việt này những khối cơ bản quan trọng trong xã hội.   Như đã nói đến phía trên, cách gọi này là một sự lừa dối vì các đoàn thể của người Việt đang đối tác với bộ phận tương ứng của họ ở nước ngoài thật ra chỉ là các cánh tay vươn dài của chính quyền, hoặc các đoàn thể tầm cỡ (hoặc có định hướng đặc biệt) dưới sự lãnh đạo/quản lý của chính quyền.

Thật ra không có định nghĩa thống nhất cho xã hội dân sự trong cộng đồng trí thức (xem biểu đồ 2).(30) Bà Mary Kaldor đã nhận dạng được 5 nhận thức khác nhau về xã hội dân sự:  công dân, tư sản, tân-tự-do, hoạt động chính trị, và thành phần chống chủ nghĩa hiện đại.(31) Tuy vậy, hai chữ “dân sự” vẫn được xem chung như là chuyện của dân hoặc chủ trương bất-bạo-động.  Những vẫn có những bất đồng về việc các hoạt động bất-bạo-động có nên tuân theo pháp luật hay không vì trong một xã hội độc tài thống trị, như Việt Nam, rõ ràng là luật pháp được đặt ra để ngăn cấm các hoạt động như thế.  Xã hội dân sự có thật sự hiện hữu trong một quốc gia không có một kết cấu dân chủ hoặc một quá trình tiến triển dân chủ hay không?

Nhận thức của các nhà hoạt động chính trị về xã hội dân sự xuất hiện cùng lúc với sự sụp đổ của XHCN ở Đông Âu qua những nổ lực của Điều khoản 77 ở Cộng Hoà Czech và Tinh Thần Đoàn Kết ở Ba Lan.   Trong ngữ cảnh này, xã hội dân sự được nâng cấp thành phương tiện thúc đẩy dân chủ và tự do, quân bình quyền lực của chính quyền và thành phần tư nhân, cũng như nâng cao hiệu quả, trách nhiệm, và sự lãnh đạo cao cả của chính quyền.(32) Như tôi sẽ nhắc đến phía dưới, các đoàn thể đấu tranh dân chủ của người Việt ở hải ngoại đang chủ trương thúc đẩy phát triển “xã hội dân sự” như một phần của chiến lược chấm dứt thể chế độc tài Đảng trị CS ở Việt Nam.

Biểu đồ 2

Xã Hội Dân Sự qua Hình Thức Cổ Điển


NGUỒN: Joseph Hannah, Các Tổ Chức Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân Sự, và Quan Hệ Chính Quyền-Nhân Dân (Seattle: Nghị luận tiến sĩ ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007), trang 53.

Thế thì xã hội dân sự có nghĩa gì trong quan niệm của người Việt Nam?   Các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ, hội viên của Nhóm Nghiên Cứu Việt Nam thuộc Hiệp Hội Châu Á Học Hoa Kỳ, sau khi thảo luận về việc xã hội dân sự chuyển ngữ sang tiếng Việt là gì đã kết luận rằng không có một từ đồng nghĩa nào như thế cả.  Các nhà nghiên cứu này đã nói thêm rằng có một vài từ gần như có cùng nghĩa đã được sử dụng nhưng chúng ý nghĩa của các từ này hầu như khác  ý nghĩa của Tây phương.(35)

Danh từ xã hội dân sự không được sử dụng rộng rãi trong các bài thuyết trình của các nhà nghiên cứu và viên chức Việt Nam.  Có hai nhóm từ trong tiếng Việt – xã hội dân sự xã hội công dân – được sử dụng thường xuyên đại diện cho “civil society” (xã hội dân sự).  Cho dù vậy, Bộ Nội Vụ đang tìm một danh từ chính thức để thay thế cho “civil society” khi chuyển ngữ.  Cả hai nhóm từ đều không được sử dụng trong các văn bản chính thức khi đề cập đến các đoàn thể người Việt quốc nội; các đoàn thể mà người nước ngoài gọi là NGO được xem như là các đoàn thể nhân dân.   Có bằng chứng chứng tỏ rằng những NGO ở tầng lớp nhân dân người Việt không đồng ý với cách giải thích này.

Nhóm từ xã hội dân sự có hai ý nghĩa khác biệt trong quan niệm của người Việt Nam hiện nay.(34) Ý nghĩa thứ nhất là một ý nghĩa kinh tế nhìn vào xã hội dân sự qua những phục vụ mà các NGO địa phương cung cấp.  Trong ý nghĩa này, quan niệm về xã hội dân sự được xem như gắn liền với các tổ chức thiện nguyện quốc tế và nghị trình của họ.  Lý do là vì trong xã hội độc tài Đảng trị của Việt Nam, không có 1 xã hội dân sự nào thật sự độc lập hoặc tự lập từ sự kiểm soát quản lý trực tiếp của chính quyền.

Ý nghĩa thứ nhì có liên quan đến chính trị.  Theo T/S Hoàng Ngọc Giao, ý nghĩa này bao gồm các hiệp hội chính trị chẳng hạn như những hiệp hội là hội viên của MTTQVN.(35) Kể từ thập niên 1990, xã hội dân sự có một ý nghĩa mới đối với Việt Nam.  Các nhà bất đồng chính kiến đã sử dụng cụm từ này trong công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ.  Trong ngữ cảnh này, xã hội dân sự mô tả sự hình thành của một khoảng không trong quần chúng mà trong đó, thể chế độc tài Đảng trị của Việt Nam bị thử thách bởi sự huy động chính trị bất bạo động nơi người dân.  Thí dụ như lời nhà đấu tranh chính trị Lữ Phương từng nói “công cuộc vận động xây dựng xã hội dân sự cũng sẽ trở thành công cuộc vận động cho luật pháp, tự do, và nhân quyền cơ bản của con người.”(36) Tổng quát mà nói thì xã hội dân sự trong quan điểm chính trị nói đến công cuộc đấu tranh cho dân chủ trước thể chế thống trị toàn quyền của Việt Nam.

Khái niệm về xã hội dân sự không được người dân nắm vững một cách rộng rãi trong xã hội Việt Nam.(37) Khi cụm từ này được dùng đến lúc thảo luận với người nước ngoài, nó thường đuợc dùng để nói đến các đoàn thể, hiệp hội có liên kết chặc chẽ với chính quyền.  Các đoàn thể, hiệp nội này đang cố gắng khiến cho người ta nghĩ họ “chính thực” là các tổ chức xã hội dân sự được thiết lập theo định hướng độc lập của riêng mình.

CHÚ THÍCH

7.        “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Câu Chuyện về Những Lầm Lẫn có Tính Toán.” của t/g Oscar Salemink trong Môi Giới Phát Triển và Thông Dịch Viên: Dân Tộc Học vể Viện Trợ và Cơ Quan Chính Quyền, biên tập bởi David Lewis và David Mosse (Bloomfield, CT: NXB Kumarian Inc., 2006) trang 102.

8.       Một cuộc nghiên cứu chuyên nghiệp thiết lập tại Hà Nội và TP HCM ghi nhận hơn 700 “đoàn thể nhân dân”,  phần đông được thiết lập sau 1986; “Mối Quan Hệ giữa các Đoàn Thể Nhân Dân và Đoàn Thể Chính Quyền tại Việt Nam: Một Khám Phá Lựa Chọn” của t/g Joerg Wischerman và Nguyễn Quang Vinh trong Để có được Sự Ngăn Nắp tại Việt Nam:  Xâm Nhập và Len Lỏi trong Quốc Gia XHCN, biên tập bởi Ben J. Tria Kerkvliet, Russel H.K. Heng, và David W.H. Koh (Singapore: Học Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, 2003).  Trang 186.

9.       “Sự Xuất Hiện của Bộ Phận Phi-Lợi-Nhuận và Thành Phần Yêu Nước trong CHXHCNVN” của t/g Mark Sidel trong Xã Hội Dân Sự Đang Ló Dạng trong Cộng Đồng Châu Á Thái Bình Dương, biên tập bởi Tadashi Yamamoto (Singapore:  Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, 1995).  Trang 294-296.

10.    Ibid., 293-294.

11.    Thayer, “XHCN Độc Đảng và Chính Quyền”, trích đoạn trang 54.

12.    Wischerman và Vinh, “Mối Quan Hệ giữa các Đoàn Thể Nhân Dân và Đoàn Thể Chính Quyền tại Việt Nam.”, trích đoạn trang 186.

13.    “Từ Phá Rào đến Kết Nối:  Đường Hướng, Đoàn Thể Nhân Dân, và những Ảnh Hưởng Chính Sách trong thời Hậu XHCN Việt Nam.” của t/g Thaveeporn Vasavakul trong Để có được Sự Ngăn Nắp tại Việt Nam, biên tập bởi Kerkvliet, Heng và Koh.  Trang 26-28.

14.    Các văn bản luật pháp then chốt gồm có: NĐ 35-CP (1992),  “Chỉ Đạo và Định Hướng Các Hoạt Động Khoa Học và Kỹ Thuật”; NĐ 29/1998/NĐ-CP (11.5.98);  NĐ 71/1998/NĐ-CP (8.9.1998); NĐ 07/1999/NĐ-CP (13.2.1999); NĐ 177 (1999) về hội thiện nguyện và các nguồn viện trợ xã hội; và Điều Luật về Khoa Học Kỹ Thuật (2000).

15.    “Lấp Đầy Khoảng Trống: Sự Xuất Hiện của Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam.”  của t/g Irene Norlund. (CIVICUS: Liên Minh Toàn Cầu vì Sự Tham Gia của Công Dân, tháng 1 năm 2007).  Trang 11.

16.    Các Tổ Chức Phi-Chính-Phủ Địa Phương tại Việt Nam: Phát Triển, Xã Hội Dân Sự, và Quan Hệ Chính Quyền-Nhân Dân của t/g Joseph Hannah,  nghị luật Tiến Sĩ ĐH (Seattle: ĐH Hoa Thịnh Đốn, 2007).  Trang  54.

17.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự  tại Việt Nam”.   Trích đoạn trang 117-118.

18.    Ibid, trang 106.

19.    “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Kết Quả  Sơ Bộ và Những Phát Họa từ Cuộc Tranh Lận đang Tiến Triển” của t/g Joseph Hannah trong Hướng Về Xã Hội Tốt Đẹp: Các Diễn Viên Xã Hội Dân Sự, Chính Quyền và Tầng Lớp Thương Gia ở Đông Nam Á – Kẻ Giúp Ích hay Gây Trở Ngại cho một Xã Hội Vững Bền, Dân Chủ, và Công Bằng? (Berlin: Heinrich Böll Stifflung, 2005) . Trang 105

20.    Các thí dụ điển hình gồm có Trung Tâm Phục Vụ Phát Triển Nông Thôn thành lập năm 1994;  Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội, Tư Vấn, Nghiên Cứu, và Rèn Luyện Phát Triển Cộng Đồng thành lập năm 1996.

21.    Vasavakul, “Từ Phá Rào đến Kết Nối”, trang 28.

22.    Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107-108.  NĐ 35-CP được đặt tên “Một Vài Chỉ Đạo nhằm Định Hướng Hoạt Động Khoa Học Kỹ Thuật.”

23.    Trích lời của Kathrin Perdersen trong “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam” của t/g Salemink, trang 118.

24.    “Tạo Lập Xã Hội Dân Sự?  Sự Xuất Hiện của các NGO tại Việt Nam” của t/g Michael Gray trong tờ Phát Triển và Thay Đổi 30, số thứ 4 (tháng 10, 1999):  698.

25.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trích đoạn trang 119.

26.    Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107.  Tác giả viết rằng những cố gắng nhằm để soạn thảo Điều Luật cho các NGO là một nổ lực được giữ kín kéo dài 15 năm.

27.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trích đoạn trang 120.

28.    Hannah, “Các Diễn Viên và Hoạt Động Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 107 và Sabharwal & Trần Thị Thiên Hương, “Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Từ Bên Bờ đến Giữa Nguồn”, trang 4.

29.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Vìệt Nam”,  trang 105-106.

30.    Có rất nhiều dữ liệu về đề tài này.  Để thao khảo tổng quát, xin xem Xã Hội Dân Sự và Thay Đổi Chính Trị ở Á Châu: Nới Rộng và Thu Hẹp Khoảng Không Dân Chủ của t/g Muthiah Alagappa. (Stanford: ĐH Standford – HK, 2004) và “Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam: Đổi Mới và Sự Xuất Hiện của Xã Hội Dân Sự” của t/g Carlyle A. Thayer trong Sự Phát Triển của Xã Hội Dân Sự trong các Thể Chế Cộng Sản, biên tập bởi Robert F. Miller (Sydney: NXB Allen & Unwin, 1992)  trang 110-129.

31.    Tóm lược trong “Xã Hội Dân Sự và các NGO tại Việt Nam” của t/g Bach Tan Sinh”, trang 2-3.

32.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 102-104.

33.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 105 và “Chính Quyền, Đoàn Thể Địa Phương, và những Tính Chất Dân Sự khác ở Nông Thôn Bắc Việt.”của t/g Hy V. Luong trong Đời Sống Dân Sự, Toàn Cầu Hóa, và Thay Đổi Chính Trị ở Á Châu: Sắp Xếp giữa Gia Đình và Chính Quyền, biên tập bởi Robert P. Weller (London: Routledge, 2005).  Trang 123-147.

34.    Phần này được rút tỉa từ bài “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam” của t/g Salemink, trang 104 và bài “Sự Kết Hợp của Xã Hội Dân Sự ở Việt Nam” của t/g  Hoàng Ngọc Giao, tháng 1 năm 2007, trang 1.  Bài viết này được đăng trên trang mạng của Dự Án Hỗ Trợ Cải Cách Pháp Luật (LERAP) <http://www.lerap.org/en/node/91>

35.    Trong bài “Sự Kết Hợp của Xã Hội Dân Sự ở Việt Nam”, Hoàng Ngọc Giao nhận xét rằng mặc dù Điều khoản 69 của Hiến Pháp cho phép người dân tự do lập đoàn thể tổ chức, hoat động của các tổ chức đoàn thể có thể bị chính quyền ngăn cấm.   Ông Giao không có nghi ngờ gì về sự độc tài toàn trị của chính quyền độc Đảng Việt Nam.

36.    “Xã Hội Công Dân: Từ Triệt Tiêu Đến Phục Hồi” của t/g Lữ Phương.  Một phần của bài này đã được chuyển sang Anh ngữ và đọc tại hội thảo “Vietnam Update 1994: Đổi Mới, Nhà Nước, và Xã Hội Công Dân” do Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á Thái Bình Dương thuộc ĐH Quốc Gia Úc ở Canberra tổ chức, ngày 10-11 tháng 11 năm 2004.  Chính quyền VN đã ngăn cản không cho ông Lữ Phương tham dự buổi hội thảo này.

37.    Salemink, “Chuyển Ngữ, Dẫn Giải, và Thực Hành Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam”, trang 121-122.

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: