Home > Chính Trị Xã Hội, Lược dịch > Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (1/4)

Việt Nam và Thử Thách Xã Hội Chính Trị Dân Sự (1/4)

CARLYLE A. THAYER
KD lượt dịch
Trích từ bộ “Đông Nam Á đương thời” pho thứ 31, Số 1 (2009) trang 1-27
Copyright 2009 ISEAS
ISSS 0219-797X bản in / ISSN 1793-284X bản điện tử


Ông Carlyle A. Thayer là một Giảng viên về bộ môn Chính Trị tại ĐH New South Wales thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc Châu ở Canberra, là một quan sát viên và là nhà phân tích chuyên về Việt Nam được nhiều người biết tiếng trên thế giới, hiện ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Ohio-Hoa Kỳ, về môn Đông Nam Á Học.

Lời người dịch:  Cụm từ “xã hội dân sự” được dùng trong ngữ cảnh của “civil society” mà tác giả sử dụng trong bài này.  Tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng “xã hội dân sự” trong quan niệm của nguời Việt không đồng nghĩa với ý nghĩa của “civil society” của Tây Phương.   Người dịch cũng muốn khuyên bạn đọc nên so sánh với bản gốc bằng Anh ngữ nếu cảm thấy cần phải hiểu rõ ý nghĩa của từng chữ một trong câu văn.  Bản Anh ngữ có thể tìm thấy tại đây: http://www.viet-studies.info/kinhte/Thayer_Civil_Society.pdf


Bộ mộn chính trị Việt Nam đương thời đã bị chế ngự bởi hai mẫu hình chính: “chính trị thường nhật” và xã hội dân sự.  Bài viết này chứng tỏ rằng hai mẫu hình “chính trị thường nhật” và xã hội dân sự đã giảm thiểu tầm quan trọng của việc tìm hiểu về các thế lực ủng hộ dân chủ đã và đang đấu tranh chống lại ngôi vị độc tôn của Đảng CSVN.  Người ta cũng cho rằng các thay đổi chính trị tại Việt Nam sẽ được định đoạt một cách đáng kể bởi phương cách mà chính quyền độc đảng Việt Nam sẽ lựa chọn nhằm để xoay trở trước các thử thách xã hội chính trị dân sự đặt ra.  Cụm từ xã-hội-chính-trị-dân-sự ám chỉ mạng lưới mà các tập hợp chính trị đã liên kết lại thành một phong trào dân sự vừa nẩy nở với tên gọi Khối 8406.  Các tổ chức chính trị hải ngoại, như Đảng Việt Tân chẳng hạn, đóng một vai trò càng ngày càng trở nên quan trọng trong việc ủng hộ vật chất và tinh thần cho xã hội chính trị dân sự.  Mẫu hình xã hội dân sự đang bị chỉ trích vì đã bị độc quyền chiếm hữu bởi các thứ được gọi là “tổ chức phi-chính-quyền”và đoàn thể nhân dân được xem như là tác động chủ yếu nhất cho các thay đổi chính trị.  Bài viết này sẽ kết thúc với một ước tính về các ảnh hưởng tương lai của xã hội chính trị dân sự tại Việt Nam cùng các viễn ảnh có thể xảy đến.

Từ khóa: “chính trị thường nhật” , XHCN độc đảng, xã hội dân sự, xã hội chính trị dân sự, Khối 8406, Việt Tân, Việt Nam.

Bài viết này nhắm vào việc thúc đẩy các thảo luận về tình hình chính trị Việt Nam vượt qua những nghiên cứu đương thời chỉ chuyên về hai đề tài “chính trị thường nhật” và “xã hội dân sự” bằng cách đề xướng khái niệm về xã hội chính trị dân sự.  Xã hội chính trị dân sự nói về tổ chức chính trị, đoàn thể đấu tranh dân chủ (1), công đoàn, tổ chức tôn giáo, và phong trào đấu tranh bất bạo động nhằm thúc đẩy nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo trong một xã hội độc quyền độc đoán.  Danh từ “chính trị” đã được thêm vào để bao gồm bản chất hoạt động chính trị trong xã hội dân sự ở Đông Âu trong hai thập niên 1970 và 1980 khi người dân trở nên tích cực trong việc thành lập các tổ chức bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền nhằm tạo ảnh hưởng đến môi trường họ sinh sống, và để tạo sức ép chính trị lên chính quyền.  Tầm quan trọng của bộ môn nghiên cứu về xã hội chính trị dân sự phần lớn đã bị giảm thiểu bởi các viện sĩ có xu hướng đặt nặng vai trò phát triển của các tổ chức phi chính phủ (TCPCP) và đoàn thể nhân dân (ĐTND) trong các bài viết của mình về chính trị Việt  Nam. (2)

Bài viết này sẽ chú trọng vào vai trò của các “đảng phái chính trị” vừa hình thành và các hiệp hội thương mại vừa ló dạng trong năm 2006 và kết thành một liên hiệp chính trị được biết đến với tên gọi Khối 8406.  Các nhóm này đã tạo nên một số thử thách cho đảng phái chính trị độc tài CSVN (ĐCSVN) trước khi họ bị trấn áp.  Bài viết này cũng sẽ phân tích vai trò của các tác động bên ngoài, như Đảng Việt Tân, trong việc giúp đỡ tài liệu, tài lực và nhân lực cho các tập hợp xã hội chính trị dân sự.

Trong quá khứ, các hoạt động của các tổ chức nhân quyền, đấu tranh dân chủ, và tự do tôn giáo tương đối bị ngăn cách với nhau.(3) Nhờ vào mối liên kết gia tăng giữa các tập hợp xã hội chính trị dân sự, quan hệ chồng chéo được thiết lập, một phong trào tranh đấu nẩy sinh và dần dần hình thành, bất chấp sự đàn áp của chính quyền.  Sự phát triển này xảy ra trong lúc quyền cai trị chính thống của ĐCSVN đang bị thử thách vì người dân bất mãn với căn bệnh tham nhũng thối nát, lạm phát gia tăng, ô nhiễm môi trường và các bệnh chứng xã hội khác.  Bài viết này sẽ được kết thúc bằng cách lưu ý rằng Việt Nam có thể đối diện với nguy cơ xã hội không ổn định nếu chính quyền độc đảng không thể giải quyết những thử thách xã hội chính trị dân sự một cách thỏa đáng.

Bài viết này sẽ được chia thành 4 phần.  Phần 1 sơ lược về những đặc tính của nhà nước độc đảng Việt Nam.  Phần 2 thảo luận về câu hỏi: Xã hội dân sự là gì theo quan điểm của người Việt?  Phần 3 phân tích về sự trỗi dậy của xã hội chính trị dân sự chủ yếu bằng cách chú tâm vào các hoạt động của Khối 8406 và Việt Tân.  Cuối cùng, phần 4 đưa ra một vài nhận định về thử thách mà các tiến triển chính trị này đang tạo nên cho chế độ độc đảng tại Việt Nam.

Thể Chế Chính Trị Độc Đảng của Việt Nam

Trước thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu chính trị phương Tây không gặp trở ngại gì trong việc phân loại Việt Nam là một thể chế chính trị theo chủ nghĩa Lênin.  Danh từ “xã hội chủ nghĩa độc đảng” cũng đã được dùng để miêu tả thể chế chính trị của Việt Nam.(4) Trong một thể chế như thế, Đảng có toàn quyền điều khiển các cơ quan chi bộ quốc gia, quân đội, và các hội đoàn khác trong xã hội bằng cách xâm nhập vào qua hình thức cán bộ Đảng viên và các ủy ban.  Các Đảng viên lão thành họp thành một bộ phận lãnh đạo ngay trọng tâm của guồng máy chính quyền, Quốc Hội, Quân Đội Nhân Dân, và Mặt Trận Tổ Quốc VN (MTTQVN).  Các lãnh đạo Đảng này được mệnh danh là “thành phần đóng 2 vai trò”.

MTTQVN là một tổ chức bao gồm 29 hội đoàn lớn và cơ quan chi bộ.  Hội Phụ Nữ VN là một hội đoàn lớn với 12 triệu thành viên và 300 nhân viên trên toàn quốc, được tài trợ bởi nhà nước.  Các hội đoàn tầm cỡ khác gồm có Đoàn Thanh Niên CS HCM, và Hội Liên Hiệp Thanh Niên VN với 3.5 triệu và 2.5 triệu thành viên.  Lãnh đạo của các hội đoàn này là thành viên thường trực của Ủy Ban Trung Ương Đảng.

Liên Hiệp các Tổ Chức Hữu Nghị VN là cơ quan chính thức có bổn phận quản lý “sự giao tế giữa-người-và-người”.  Liên hiệp này quản lý Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM), PACCOM sau đó lại giám sát và sắp đặt tất cả các hội đoàn phi-chính-phủ quốc tế (INGO) đang hoạt động tại Việt Nam.  Các INGO này làm việc với các chi bộ, cơ quan kỹ thuật, chính quyền địa phương, và các hội đoàn lớn của phụ nữ, nông phu, công nhân, và thanh niên để hỗ trợ các hình thức phát triển.

Phòng Thương Mại và Công Nghiệp VN (VCCI) là một tổ chức quốc doanh đại diện cho các công ty tư nhân ló dạng sau khi tiến hành đổi mới.  Thành viên của VCCI bao gồm các tổ chức kinh doanh chính phủ, công ty tư nhân, hội đoàn thương mại với con số tương đương với nhau.  Mặc dù không được tài trợ bởi chính phủ,  VCCI vẫn là một thành viên của MTTQVN.  VCCI là một thí dụ điển hình cho sự phát triển của một đoàn thể bên ngoài những hạn chế trong ĐCS.  Tuy là vậy, ủy ban thường trực của Đảng vẫn phải được thiết lập trong tất cả các tổ chức kinh doanh tư nhân.

Từ một khía cạnh đối lập khác, ĐCSVN đã từng cố gắng cải cách chính trị qua hình thức “dân chủ-nhân dân”.  Năm 1998, trước những nổi loạn lan rộng của thành phần nông dân tỉnh Thái Bình 1 năm trước đó, Ủy Ban Trung Ương ĐCSVN đã ra Chỉ thị 30-CT nhằm xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khuyển khích sự tham gia của các tầng lớp địa phương như công xã, cơ sở, và các tổ chức kinh doanh chính phủ.  Dưới khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nghị định số 29/1998/ND-CP của Chính Phủ nhắm vào mục đích cải tiến sự trong sáng và tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa phương.  Điều khoản thứ 4 trong đó chỉ thị các viên chức địa phương phải phổ biến các thông tin về chính sách, luật pháp, các dự án phát triển định kỳ mỗi năm và dài hạn, chính sách sử dụng đất đai, và ngân sách hằng năm.(5) Người dân phải nắm được tình hình và tham gian thảo luận, quyết định, và kiểm tra hoạt động của chính quyền địa phương.  Cuối cùng là nghị định số 79/2003/ND-CP về “Dân Chủ Nhân Dân” cho phép các hội đoàn xã tham gia trong các hoạt động phát triển của phường xã. (6)

CHÚ THÍCH

1.       Như Liên Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hội Nhà Báo Tự Do, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.

2.       Xin lưu ý đến việc các đoàn thể xã hội chính trị dân sự không được đề cập đến trong bản báo cáo nghiên cứu Các Hình Thức Hoạt Động giữa Cơ Quan Chính Quyền và các Đoàn Thể Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam (Hanoi VUFO-NGO Resource Center, tháng 12 năm 2008).  Bản báo cáo này được soạn thảo cho cộng đồng tài trợ quốc tế và được tài trợ bởi Bộ Phát Triển Quốc Tế Phần Lan.  Như sẽ được rõ ràng ở phần sau, danh từ NGO người Việt được sử dụng như đã báo trước.  Đáng lý tôi phải thêm vào nhóm từ “được xem là” phía trước hoặc đóng ngoặc kép từ NGO.  Nhưng để bài viết được trôi trãi, tôi đã giới hạn không làm thế.

3.       Bài viết tựa đề  “Bất Đồng Chính Kiến và Đổi Mới Chính Trị tại Việt Nam, 1997 – 2002” của t/g Carlyle A. Thayer trong quyển Sức Mạnh của Sáng Kiến: Các Nhận Thức Lỗi Lạc và Thay Đổi Chính Trị ở Đông Á và Đông Nam Á, biên tập bởi Claudia Derichs và Thomas Heberer (Copenhagen: NXB Nordict Institute và Asian Studies Press, 2006) trang 115-132.

4.       “Chủ Nghĩa Xã Hội Độc Đảng và Chính Quyền” của t/g Carlyle A. Thayer trong Những Chuyển Đổi Nông Thôn tại Việt Nam, biên tập bởi Benedict J. Tria Kerkvliet và Dough J. Porter (Boulder: NXB Westview Press, 1995) trang 39-64.

5.        “Xã Hội Dân Sự và các NGO tại Việt Nam: Một vài Ý Kiến Khởi Đầu về Phát Triển và Chướng Ngại” của t/g Bach Tan Sinh.  Bài viết được trình bày trong cuộc họp mặt với Hội Đồng Đại Biểu Nghị Trường Thụy Điển về chính sách Phát Triển Quốc Tế của Thụy Điển tại Hà Nội, ngày 2 tháng 3 năm 2001.  Trang 4.

6.       “Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam: Từ Bên Bờ đến Giữa Nguồn” của t/g Gita Sbharwal và Tran Thi Thien Huong (CIVICUS: Liên Minh Toàn Cầu vì Sự Tham Gia của Công Dân, tháng 7 năm 2005).  Trang 4.

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: