Home > Quan Điểm > Truy Vấn – Đường Đến Chân Truyền, Và Hơn Nữa!

Truy Vấn – Đường Đến Chân Truyền, Và Hơn Nữa!

Socrates (triết gia cổ đại Hy Lạp) wrote:

Tôi chỉ biết rằng tôi không biết gì cả!” (nguyên văn: “All I know is that I know nothing“)

Maieutic teaching – tạm dịch là phương pháp Truy Vấn – là tên gọi của một phương pháp giảng dạy theo lối biện chứng của Socrates, một trong những triết gia cổ đại của Hy Lạp. Từ Maieutic trong Anh ngữ bắt nguồn từ chữ maieutikós obstetric(phương pháp Socrates) khởi đầu từ chữ maía, có nghĩa là người hộ sinh. Theo phương pháp này, quá trình giảng dạy trãi dài qua những mẫu đối thoại giữa thầy và trò mà trong đó, vấn đề được mổ xẻ được chia thành từng phần như những mảnh nhỏ của một bức tranh ghép. Những mảnh nhỏ này lại được xem là những vấn đề nhỏ có thể tìm hiểu bằng một loạt những câu hỏi tiếp nối. Và những câu hỏi này thường bắt đầu bằng một nghi vấn.

Tóm lược về triết gia Socrates

Là một triết gia được xem như là một trong những nhân vật tiên phong của triết học Tây phương và đồng thời cũng tạo nên một sự ảnh hưởng không nhỏ đối với triết học và ngành giáo dục hiện đại, Socrates không để lại một tác phẩm gì cho đời. Vì thế cuộc đời thật của ông mãi là bí ẩn đối với chúng ta. Những chi tiết về đời sống và triết lý của ông được người đời biết đến qua những mẫu đối thoại được viết lại bởi người môn đệ gần gũi nhất của ông, triết gia cổ đại Hy Lạp Plato. Chi tiết về cuộc đời ông cũng được đề cập đến qua những tác phẩm của sử gia Hy Lạp Xenophone, triết gia cổ đại Aristotle, và nhà soạn kịch Hy Lạp Aristophanes.

Phỏng theo mẩu đối thoại “Lời Tạ Lỗi” (Apology) của Plato, một nhà tiên tri ở Delphi đã tuyên bố rằng không ai có học thức sâu rộng bằng Socrates cả. Socrates cho rằng đây là một nghịch lý vì ông tin rằng mình không phải là một nhà thông thái. Thế là để tìm hiểu lời tiên tri đó, ông tìm đến tất cả những người tự cho mình là nhà trí thức ở Athena để đàm đạo và cuối cùng nhận ra những người tự xưng là mình học cao hiểu rộng chẳng có một chút gì gọi là thông thái cả. Lối đối thoại theo phương pháp truy vấn của ông đã khiến nhiều nhà trí thức và chính trị gia lỗi lạc ở Hy Lạp cảm thấy mình rất ngu xuẩn.

Ông được biết đến như một người có khuynh hướng chỉ chích thể chế Dân Chủ (nhiều nghiên cứu gia cho rằng sự tố giác này có liên quan đến mục đích chính trị) và bị xem như là một mũi dùi đối với Athena, thủ phủ của Hy Lạp. Ông bị kết tội là làm hư hỏng tư tưởng của thế hệ trẻ và bị xử chết bằng một ly độc cần (poison hemlock). Socrates tiếp nhận cái chết một cách bình tĩnh vì tin rằng đã đến lúc ông cần phải chết. Ông đã dùng đến sinh mạng mình để chứng minh giá trị triết lý của mình. Nếu phải tóm lược cả cuộc đời và triết lý của Socrates trong một câu nói, đó sẽ là: kẻ thông thái nhất là kẻ biết nhìn nhận sự ngu xuẩn của mình.

Triết lý Socrates

Để thấu hiểu triết lý Socrates, ta phải gác bỏ những quan điểm xã hội, tính tự ti, những mặc cảm cá nhân, tập tục văn hóa, niềm tin tôn giáo, và những truyền thống hũ lậu mà người đời thường dùng để hãnh diện, tự hào, và ra vẻ kể cả khi nghĩ mình có hoặc biết được. Ta cũng không nên núp sau những mỹ từ có tính trừu tượng như chính nghĩa, công lý, độc lập, dân chủ, cộng sản, thiện, ác, tổ quốc, v.v… vì chúng rất trừu tượng và rất mơ hồ đối với những người sử dụng chúng. Đối diện với phương pháp truy vấn của Socrates, sự hiểu biết mơ hồ của bạn về những gì bạn “nhân danh” hoặc “đả kích” sẽ là vũ khí mà cuối cùng bạn sẽ phải tự dùng để đánh đổ niềm tin của mình. Nhưng trái lại nếu bạn không đặt nặng vấn đề khi bước vào tranh luận, thì phương pháp này sẽ giúp bạn hiểu mình, hiểu người, hiểu đời, và nhất là thấu hiểu nguồn gốc, giá trị, và hiệu quả của vấn đề được bàn luận.

Triết lý Socrates có thể tìm hiểu được qua những nghịch lý mà ông đã đưa ra như “Không ai thèm muốn điều xấu”, “Không ai tự nguyện, cố ý phạm lỗi hoặc làm ác.”, “Đức tính – tất cả các đức tính – đều là kiến thức.”, và “Hiệu quả đủ để đem đến hạnh phúc.” Một điều kỳ lạ nên nhớ nữa là Triết lý Socrates, theo lời của ông ta, không phải là do ông ấy nghĩ ra – mà là do những bậc thầy của ông ta, và ngay cả những người đàn bà bên cạnh mẹ của ông (một người nữ hộ sinh) truyền dạy.

Phương pháp Truy Vấn

Truy Vấn là một phương pháp giảng dạy mà trong đó, người thầy không có câu trả lời chính xác cho những câu hỏi. Hầu như tất cả những câu hỏi đều được trả lời bằng một câu hỏi khác. Trách nhiệm của người thầy không phải để nhét những gì khó nuốt nổi vào đầu của người trò, mà để giúp người trò nhận rõ được vấn đề và tự tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình. Qua cách hỏi để gợi ý, câu trả lời thật sự phát xuất từ người trò. Những lý thuyết sai lầm, những ngụy biện có tính chất lừa dối, tự gạt sẽ dần được khơi ra và loại bỏ, chân lý sẽ rõ dần và câu trả lời sẽ rất hiển nhiên đối với người trò khi đã nhận rõ được bản chất của vấn đề.

Phương pháp này đòi hỏi người thầy phải phải bước khỏi bục giảng và ngồi xuống cùng người trò. Nó cũng đòi hỏi người trò phải bỏ thái độ khúm núm vâng vâng dạ dạ để bình tĩnh đối thoại cùng thầy, quan trọng nhất là phải tỉnh táo trả lời những câu hỏi trong mẫu đối thoại. Thầy và trò phải cùng đồng ý về chủ đề của cuộc thảo luận và trò phải đồng ý cố gắng trả lời những câu hỏi của thầy. Thầy và trò phải cùng chấp nhận câu trả lời hợp lý nhất và gạt bỏ những tư tưởng cá nhân, quan niệm xã hội, tôn giáo, gia đình, cùng những niềm tin không đủ lý lẽ để biện luận khác. Khi người thầy đưa ra một luận điểm không hợp lý, người trò có quyền hướng dẫn mẫu đối thoại về luận điểm vô đó để làm sáng tỏ vấn đề. Người thầy nên có nhiều hiểu biết về những luận cứ sai lầm chung quanh vấn đề được thảo luận.

Lợi ích của phương pháp Truy Vấn

Bạn có bao giờ được trò chuyện thân mật với thầy giáo của mình một cách thân mật như hai người bạn về những chuyên đề trong môn học không? Có hiệu quả gì sau một lần trò chuyện so với nhiều buổi nghe giảng trong lớp học? Ở tư cách một người bạn, thầy của bạn có giọng điệu gì so với lúc giảng bài trong lớp học? Bạn có tự tin hơn về những gì mình biết khi đưa ra ý kiến hoặc đặt câu hỏi ngoài lớp học không? Ở ngoài lớp học, thầy của bạn có đáng yêu hơn không? Lòng tôn kính thầy có khác biệt gì trong hai trường hợp không? Và nó có ảnh hưởng gì đến tư duy của bạn không? Bạn có tự tin hơn khi tự mình trả lời được câu hỏi của mình không? Bạn có cảm thấy kiến thức của mình và thầy càng khác biệt khi thầy phải đích thân trả lời mỗi câu hỏi bạn đưa ra không? Khi bạn càng nể trọng kiến thức của thầy, bạn nghĩ sao về năng khiếu của mình? Khi thầy trả lời câu hỏi của bạn, kiến thức đó là của bạn hay của thầy? Khi bạn tự ý thức được câu trả lời cho câu hỏi của mình, kiến thức đó là của ai? Khi sử dụng câu trả lời của thầy trong đời sống, bạn có được lịch duyệt hay không? Và thấu hiểu được bao nhiêu? Khi sử dụng câu trả lời của chính mình trong đời sống, bạn có lịch duyệt hơn không? Và hiểu rõ mình đang nói gì so với khi dùng đến kiến thức của người khác không? Bạn có biết rằng những câu hỏi này được đặt ra theo phương pháp Truy Vấn không? Nếu biết, thì bạn có biết mục đích của những câu hỏi này là gì không?

Xã hội văn hóa Đông Phương: bước cản của phương pháp Truy Vấn.

Quan hệ thầy trò không nhất thiết phải có giới hạn riêng của chúng. Ta có thể nhìn thấy rõ quan hệ này ở mọi nơi trong mọi tầng lớp xã hội: chính quyền và nhân dân, giàu và nghèo, chủ và tớ, kỹ thuật viên và người tiêu dùng, cha và con, sư và chú tiểu, sư và thiện nam tín nữ, chồng và vợ, mục sư và giáo đồ, v.v… Tóm lại khi một người được đặt vào vị thế nhồi nhét một điều gì đó vào tư tưởng của một người khác hoặc muốn ảnh hưởng đến tư tưởng của một ngưới khác, một mối quan hệ thầy trò được thiết lập.

Ảnh hưởng của Khổng giáo trên truyền thống văn hóa Đông phương đã khiến cho chúng ta có được một xã hội phân chia giai cấp mà từ đó, thái độ chấp nhận số phận vai trò của mọi người sau nhiều năm càng góp phần phân biệt những ranh giới đáng lý ra không cần có. Cái đạo đức mà Khổng Phu Tử rêu rao không nằm ngoài mục đích phân biệt đúng, sai khi ta đúng, người sai. Lòng nhân đạo của ông không có thừa đối với những người bất đồng chính kiến. Những công bằng an ninh trật tự xã tắc mà ông đặt ra không nằm ngoài mục đích độc tài thống trị mà trong đó, công bằng chỉ đầy đủ ý nghĩa nếu hạn chế trong một tầng lớp, một giai cấp duy nhất. Khi tự nhận mình là một “người truyền đạt lại cái đã có mà không phát minh ra thứ gì khác” trong quyển Luận Ngữ, Khổng Phu Tử không đơn giản chỉ nhấn mạnh việc học, mà còn nhấn mạnh là phải học những gì đã sẵn có, cũ rích từ bấy lâu nay và không nhất thiết phải áp dụng những gì mới mẻ, nhất là khi những gì mới mẻ có khuynh hướng đã phá những gì đang được truyền dạy.

Những ảnh hưởng trực tiếp của Khổng giáo qua nhiều năm đã góp phần dựng lên một nền văn hóa truyền thống lớn nói nhỏ nghe, vâng vâng dạ dạ, cắn răng chịu đựng, “áo mặc không qua khỏi đầu”, dẫn đến những bi kịch xã hội phong kiến với nhiều trường hợp đối xử giữa người và người còn tệ hơn giữa người và vật. Những ảnh hưởng đó cũng đã dọn đường cho một xã hội chủ nghĩa độc quyền độc đảng, trói chặt một dân tộc trong thể chế chính trị quyền lực từ ngàn xưa. Nếu ai đó còn ca tụng nền văn hóa truyền thống đạo Khổng và sử dụng chúng làm gia quy trong gia đình, thì không nên than phiền chế độ XHCN đang gò bó tư duy và đời sống của mình.

Phân loại học trò

Trong nghành giáo dục hiện nay ở nước ta, tôi xin phép được liệt các học trò vào bốn loại như sau:

  1. Loại không hiểu không biết: Chỉ nhớ từng chữ một những gì đã học được nhưng chẳng biết gì nhiều. Nếu ai hỏi đúng câu hỏi thì trả lời vành vạch. Và câu trả lời ấy không phải của họ, mà là của thầy. Nếu ai hỏi cùng một câu hỏi ở một thể loại khác thì ú ớ tìm thầy hỏi lại.
  2. Loại biết không hiểu: Loại này nhớ từng chữ một, và biết rất nhiều về những gì học được. Nhưng không hiểu gì cả. Nếu ai hỏi một điều gì chưa nghe qua, vì nghĩ mình biết sẽ trả lời lung tung, phát biểu linh tinh. Sau đó tìm thầy hỏi lại xem mình trả lời như thế có đúng không, phần nhiều trớt quớt hết. Những gì học được vẫn là của thầy.
  3. Loại biết và hiểu, nhưng không rành: Loại này nhớ, biết, và hiểu những gì học được, nếu có ai hỏi một điều gì đó chưa nghe qua, sẽ trả lời được và không bao giờ sai, nhưng sự hiểu biết thiếu chiều sâu và câu trả lời không được lưu loát. Những gì học được một phần vẫn là của thầy.
  4. Truyền nhân: Loại này là hiện thân của người thầy trong lĩnh vực học được, lĩnh hội được tất cả chân truyền của người thầy. Không những thế còn đủ khả năng phát triển tài học của mình, không bỏ sót hoặc phải tái sáng tạo những gì đã có. Những câu trả lời cho bất cứ câu hỏi nào đưa ra sẽ lưu loát và uyên thâm không kém người thầy. Và những gì học được sẽ là của riêng họ.

Tác dụng của phương pháp Truy Vấn

Vì mục đích của phương pháp giảng dạy này là giúp cho học trò tận dụng khả năng để truy tìm câu trả lời tiềm ẩn trong tư duy của mình, nó đòi hỏi người thầy phải xem nhẹ thân phận địa vị của mình; và ở nguời trò, nó đòi hỏi nổ lực học tập và bẩm tính thông minh biết duy lý lần theo ý nghĩ của mình. Đồng thời người thầy hầu như phải bỏ rất nhiều thời gian dành riêng cho người trò qua những lần thảo luận.

Rất nhiều tinh hoa và triết lý võ học của thời xưa bị thất truyền vì người thầy không biết dùng đến phương pháp Truy Vấn để dẫn dắt người trò đến cuối con đường học tập. Và trong nhiều trường hợp, người thầy đã phí quá nhiều công sức phát dương hoang đại môn phái của mình và không còn thời gian để đào tạo một môn đồ đáng để gọi là truyền nhân. Khi ra đi, người thầy không để lại một người với đầy đủ kiến thức và sự thông thái của mình.

Không ai có thể đọc một quyển sách của Karl Marx và biết lãnh ngộ được trọn vẹn ý tưởng XHCN của Karl Marx. Không ai có thể ngồi nghe Chúa Giê-su thuyết giảng mà có thể hiểu rõ từng ý nghĩ trong các lời dạy của ngài. Không ai có thể ngồi nghe đi nghe lại một bộ Duy Thức Học mà lãnh hội được huyền bí của người viết. Không ai có thể nhìn vào những hình vẽ mà lãnh ngộ được tác dụng của những đường quyền. Và nếu không có ai để hỏi, không ai truy vấn sự hiểu biết của mình, thì những gì tự ngộ (phải gọi là đoán) ra được sẽ rất sai lầm so với dụng ý chính.

Đó chính là lý do tư tưởng XHCN trên thực tế rất xa vời với lý thuyết. Đó là lý do Giáo Hội phải mất mấy trăm năm mới hoàn tất quyển Thánh Kinh, nhưng vẫn rất mơ hồ vì chính sứ đồ Phaolô cũng chưa một lần gặp mặt Chúa. Đó chính là lý do bao nhiêu người mãi tụng kinh Phật nhưng chẳng hiểu một chữ nào. Những người quen biết tác giả không còn sử dụng nữa, và những người sử dụng chưa bao giờ gặp mặt. “Không thầy đố mầy làm nên” nhưng “học thầy không tầy học bạn”. Nếu thầy và bạn là cùng một người, có phải đã tránh khỏi được những bàn luận không cần thiết và tận dụng ý nghĩa của hai câu tục ngữ này?

Phương pháp Truy Vấn: Ác mộng của tham vọng bạo quyền

Các chính trị gia ở thành Athena sẽ làm gì nếu mỗi môn đệ của Socrates đều là một “mũi dùi” công kích vào tầng lớp tự xưng trí thức ở Athena? Đế chế La Mã sẽ làm được gì nếu mỗi môn đồ của Chúa Giê-su đều là hiện thân của ông với khả năng thuyết giảng lịch duyệt không kém ông? Thực dân Pháp sẽ làm gì khi chém một Phan Bội Châu, lại xuất hiện một Phan Bội Châu khác. Tệ hơn thế, họ sẽ làm gì nếu có rất nhiều Phan Bội Châu nhan nhản ở khắp nơi? Chính phủ Mỹ sẽ làm gì nếu ông Thiệu cũng như ông Diệm, kiên quyết rằng “Chuyện nước tôi, hãy để chúng tôi giải quyết”? Chính quyền VN sẽ làm gì nếu ai nấy đều như nhà báo Nguyễn Vũ Bình, “vào nhà tù nhỏ để dân tộc thoát khỏi nhà tù lớn”? Thành phần tham nhũng sẽ làm gì nếu ai nấy cũng là Nguyễn Việt Chiến? Bạo quyền sẽ làm gì nếu những người trong vai người Trò đều ý thức được câu trả lời tiềm ẩn trong tư duy của mình và đứng lên đòi quyền đặt câu hỏi đối với những biện lý mơ hồ? Một vạn môn đồ không đánh đổi được với một truyền nhân đúng nghĩa.

Một bài viết về phương pháp Truy Vấn không nhất thiết phải có một câu trả lời cho từng câu hỏi được đặt ra. Thú thật thì tôi cũng còn rất nhiều câu hỏi tiếp nối, nhưng xin tạm ngừng nơi đây. Bài viêt này cũng không phải do hoàn toàn do tôi nghĩ ra. Nó chỉ được đúc kết bằng những gì tìm đọc được sau nhiều ngày lang thang trên mạng với đề tài Socrates và phương pháp giảng dạy theo lối Truy Vấn của ông. Tôi vẫn biết rằng… mình không biết gì cả!

KD.

Categories: Quan Điểm Tags: ,
  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: