Home > Lược dịch > Nelson Mandela: bí quyết lãnh đạo

Nelson Mandela: bí quyết lãnh đạo

 
Richard Stengel
Time magazine 7/2008
KD và Tivo chuyển ngữ

nguồn: Time Magazine Online

NelsonMandela

 

Nelson Madela cảm thấy thanh thản nhất khi được quây quần cùng bọn trẻ. Và ở một khía cạnh nào đó, sự mất mát lớn nhất của ông là đã sống 27 năm không được nghe tiếng trẻ khóc hay cầm tay một đứa bé. Tháng rồi, khi tôi đến Johannesburg thăm ông – một Mandela yếu ớt và hoang mang hơn người mà tôi đã từng quen biết – phản ứng đầu tiên của ông là dang tay đón lấy hai đứa con trai tôi. Chỉ vài giây sau là các con tôi đã ôm lấy ông già thân thiện, người đã hỏi chúng thích môn thể thao nào và ăn gì cho buổi điểm tâm. Trong lúc trò chuyện, ông vẫn ôm Gabriel, đứa con trai có cái tên lót phức tạp là Rolihlahla, tên thật của Nelson Mandela. Ông kể chuyện về cái tên cho Gabriel nghe, giải thích vì sao dịch theo tiếng Xhosa là “kéo đổ một nhánh cây” nhưng thật sự nghĩa của nó là “kẻ phá rối”.

Khi mừng sinh nhật 90 của mình vào tuần tới, Nelson Mandela đã gây đủ rắc rối cho một vài đời người. Ông giải phóng đất nước khỏi chế độ thành kiến bạo lực, góp phần đoàn kết người da trắng và da đen, kẻ đàn áp cũng như người bị áp bức. Vào thập niên 1990, tôi đã làm việc với Mandela khoảng hai năm về cuốn hồi ký Bước Đường Dài Đến Tự Do (Long Walk to Freedom) của ông. Sau thời gian dài cùng làm việc, tôi có cảm giác hụt hẫng đáng sợ khi quyển sách đã hoàn tất; nó tựa như ánh mặt trời đang tắt dần trong đời sống của một con người. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau, nhưng tôi muốn xem mỗi lần hội ngộ có thể là lần sau cùng để mang các con đến gặp ông thêm lần nữa.

Tôi cũng muốn trò chuyện với ông về lãnh đạo. Mandela gần giống như một vị thánh thế tục mà thế giới có được, nhưng ông sẽ là người đầu tiên nhận mình giống một kẻ bộ hành khác hơn: một chính trị gia. Ông lật đổ chế độ phân biệt chủng tộc và thành lập thể chế dân chủ tại Nam Châu Phi qua sự thông hiểu chính xác khi nào và bằng cách nào để thay đổi các vai trò của mình giữa một người hùng, người biết hy sinh vì chính nghĩa, một nhà ngoại giao, và một chính khách. Là người không quen thuộc với những khái niệm triết lý trừu tượng, ông thường tâm sự với tôi rằng vấn đề “không phải là câu hỏi thuộc nguyên tắc; nó là câu hỏi mang tính chiến lược”. Ông là một nhà chiến lược bậc thầy.

Ông không còn thoải mái với những cuộc phỏng vấn và sự ban ơn nữa. Ông sợ rằng mình không đủ khả năng mang đến điều người ta mong đợi khi đến thăm một vị thánh sống, và ông cũng ý thức đủ để lo ngại việc họ nghĩ ông vẫn còn quan trọng. Nhưng thế giới chưa bao giờ cần tài năng của ông, ở vị thế một nhà chiến lược, nhà hoạt động, hay, vâng, một nhà chính trị, như bây giờ khi ông biểu hiện tài năng của mình một lần nữa tại London hôm 25 tháng sáu, khi ông lên tiếng chỉ trích sự dã man của Robert Mugabe, thuộc Zimbabwe. Trong khi chúng ta bước vào trọng điểm của cuộc tranh cử tổng thống lịch sử tại Hoa Kỳ, có nhiều kinh nghiệm ông có thể truyền lại cho cả hai ứng cử viên. Tôi thường nghĩ những gì bạn sắp đọc sau đây như là Nguyên tắc Madiba (Madiba là tên thị tộc của ông, thường được những người thân thuộc dùng để gọi ông), và chúng là tất cả những góp nhặt từ các cuộc trò chuyện cũ mới, các quan sát ông từ gần cũng như xa. Chúng rất thực dụng. Nhiều điều đã được rút tỉa trực tiếp từ kinh nghiệm bản thân ông. Tất cả đã được điều chỉnh để tạo chất xúc tác tốt : chất xúc tác này sẽ buộc chúng ta phải tự hỏi làm cách nào cho thế giới tốt đẹp hơn.

Điều 1: Lòng can đảm không thiếu vắng sự sợ hãi. Nó động viên người ta vượt qua nỗi lo sợ đó.

Trong lúc đi vận động cho cuộc tranh cử tổng thống năm 1994, ông dùng máy bay phản lực đến các vùng đất chết của Natal để đọc diễn văn trước những người ủng hộ Zulu. Tôi đồng ý gặp ông tại phi trường để tiếp tục làm việc sau buổi diễn thuyết. Khoảng 20 phút truớc khi máy bay hạ cánh, một bộ phận máy đã bị trục trặc. Một số người bắt đầu hoảng sợ và điều duy nhất có thể trấn an họ lúc đó là hướng về Mandela, người vẫn đang lặng im đọc báo, tựa như một hành khách trên chuyến xe lửa buổi sáng tới văn phòng. Phi trường chuẩn bị cho máy bay hạ cánh khẩn cấp và người phi công đã đáp xuống an toàn. Khi cùng ngồi trên băng ghế sau của chiếc BMW có lớp kính chống đạn đến điểm họp, ông quay sang tôi và nói: “Anh biết không, tôi sợ phát khiếp khi ở trên đó!”.

Mandela vẫn thường sợ hãi ngay khi ở trên mặt đất, tại phiên toà (ở Rivonia) đã mang ông vào nhà tù và trong thời gian bị giam trên đảo Robben Island. Về sau, ông nói với tôi rằng: “Dĩ nhiên là tôi đã sợ lắm!”. Ông thừa nhận không sợ mới vô lý. “Tôi không thể giả vờ là mình can đảm và có thể đánh bại cả thế giới.” Nhưng là một lãnh tụ, bạn không thể làm người ta thất vọng. “Bạn phải tỏ ra mình can trường.

Và ông đã sử dụng rất chính xác tất cả những gì đã học: biết giả vờ và làm ra vẻ như dũng cảm để động viên người khác. Đó là khả năng diễn xuất mà ông đã học thành thạo trên đảo Rebben Island – nơi có nhiều nỗi sợ nhất. Những người cùng ở tù với ông kể rằng chỉ cần nhìn ông hiên ngang và dõng dạc đi qua sân tù cũng đủ để họ tiếp tục sống thêm vài ngày nữa. Ông biết mình phải làm gương cho kẻ khác, và điều đó cho ông thêm nghị lực để chiến thắng nỗi sợ của chính mình.
 

Điều 2: Lãnh đạo từ phía trước, nhưng không bỏ rơi đồng đội phía sau.

Mandela rất khôn ngoan. Vào năm 1985, ông phải giải phẩu tuyến tiền liệt bị sưng. Khi trở lại nhà giam, ông bị cách biệt với các đồng nghiệp và bạn bè lần đầu tiên trong 21 năm. Họ phản đối. Một người bạn thân của ông là Ahmed Kathrada nhớ lại ông đã nói với họ rằng: “Này các ông tướng, hãy đợi đấy. Biết đâu đây lại là điều tốt”.

Điều tốt đó đã đến khi Mandela phải tự mình bắt đầu những cuộc thương thuyết với một chính phủ phân biệt chủng tộc. Đây chính là sự nguyền rủa đối với Quốc Hội Liên Hiệp Châu Phi (African National Congress – ANC). Sau bao thập niên tuyên bố rằng “tù nhân không thể thương thuyết” và chủ trương đấu tranh võ lực lật đổ chính quyền, ông quyết định đã đến lúc phải đối thoại với những người đàn áp mình.

Khi ông đề xướng những cuộc thương thuyết với chính phủ vào năm 1985, nhiều người nghĩ rằng ông đã thất bại. “Chúng tôi nghĩ ông ta đã bị mua chuộc,” Cyril Ramaphosa – cựu lãnh đạo hung hăng và quyền lực của Liên Hiệp Công Đoàn Thợ Mỏ- chia xẻ. “Tôi đến gặp ông để nói với ông rằng ông đang làm gì? Đó là những đề xướng khó tin. Ông đang làm một cuộc mạo hiểm quá lớn”.

Mandela khởi xướng cuộc vận động nhằm thuyết phục Quốc Hội Liên Hiệp Châu Phi (QHLHCP) rằng đường lối của mình là đúng. Thanh danh của ông bị đe dọa. Kathrada nhớ rằng ông đã đến gặp từng đồng đội của mình trong tù và giải thích với họ những gì ông đang làm. Chậm và thận trọng, ông tranh thủ họ theo mình. “Bạn phải mang những người ủng hộ mình theo,” Ramaphosa – cựu bộ trưởng tư pháp của QHLHCP và hiện là một thương gia nhiều thế lực – chia sẻ. “Một khi bạn đã đến được vị trí đầu, bạn phải cho mọi người đến cùng. Ông ta không phải là người lãnh đạo vô ơn, vắt chanh bỏ vỏ.”

Với Mandela, từ chối thương thuyết là một chiến lược chứ không phải nguyên tắc. Cả đời ông vẫn thường phân biệt hai phạm trù đó. Chủ trương bất di bất dịch của ông – việc phá đổ nạn kỳ thị chủng tộc và đạt được thành tích một người, một lá phiếu – chưa bao giờ bị chao đảo và biến đổi, nhưng tất cả điều gì có thể giúp ông đạt được mục đích, ông đều cho đó là chiến lược. Ông là người thực tế nhất trong số những người hay lý tưởng hoá.

Ông là người của lịch sử,” Ramaphosa nói. “Ông thường nghĩ trước chúng ta. Ông lo cho thế hệ mai sau: họ sẽ nghĩ gì về những chuyện chúng ta đã làm?”. Nhà tù giúp cho ông có khả năng nhìn xa; Bắt buộc phải vậy vì ông đã chẳng có cách nhìn nào khác. Ông suy nghĩ không phải chỉ cho vài ngày, hay vài tuần, mà là nhiều thập niên. Ông biết lịch sử sẽ đứng về phía ông và kết quả chắc chắn sẽ đến; chỉ là bao lâu và ra sao mà thôi. Đôi khi ông nói, “Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp theo thời gian” và luôn luôn tính chuyện đường dài.

Điều 3: Lãnh đạo từ phía sau và làm cho người khác tin rằng họ ở phía trước.

Mandela thích hồi tưởng về tuổi thơ và những buổi chiều chăn trâu lười biếng của mình. “Bạn biết không,” ông chia sẻ, “bạn chỉ có thể điều khiển chúng từ phía sau.” Khi đó ông nhướng chân mày để chắc chắn rằng tôi nhận ra sự tương đồng.

Khi còn là một cậu bé, Mandela chịu ảnh hưởng lớn từ Jongintaba, vị vua bộ lạc đã nuôi dưỡng ông. Khi Jongintaba tham dự những buổi họp mặt trong tộc, những người đàn ông ngồi thành vòng tròn, và chỉ khi tất cả đã lên tiếng, nhà vua mới bắt đầu nói. Công việc chính, Mandela giải thích, không phải để bảo mọi người phải làm gì mà để tìm môt đồng thuận. “Đừng bắt đầu cuộc tranh luận quá sớm,” ông luôn nói như vậy.

Trong thời gian tôi làm việc với ông, ông thường triệu tập những cuộc họp của nội các nhà bếp tại nhà riêng ở Houghton, một vùng ngoại ô cũ kỹ dễ thương của Johannesburg. Ông tập trung một nữa các đồng nghiệp, Ramaphosa, Thabo Mbeki (hiện là tổng thống Nam Phi) và những người khác quanh bàn ăn hoặc đôi khi thành vòng tròn ngay trong sân nhà. Một vài người bạn đồng nghiệp đã gào lên – phải tiến mau hơn, phải triệt để hơn – và ông chỉ bình tĩnh lắng nghe. Khi ông quyết định lên tiếng tại những cuộc họp đó, chậm rãi và có phương pháp, ông tổng kết ý kiến của mọi người và trình bày những suy nghĩ của riêng mình, một cách tài tình nhưng không bắt buộc hướng quyết định về phía mình mong muốn. Sự khôn khéo của lãnh đạo là cũng cho phép bản thân được lãnh đạo. Ông nói, “Điều khôn ngoan là phải biết thuyết phục người ta làm theo mình và làm cho họ nghĩ đó là sáng kiến của họ.

Điều 4: Biết rõ kẻ thù của mình và học hỏi bộ môn thể thao họ ưa thích

Từ thập niên 1960 xa xưa, Mandela bắt đầu học tiếng Afrikaans, ngôn ngữ của người da trắng Nam phi đã gây ra nạn kỳ thị chủng tộc. Các đồng đội của ông trong QHLHCP đã trêu chọc ông về điều đó, nhưng ông muốn hiểu quan điểm về thế giới của người da trắng Nam Phi; ông biết một ngày nào đó ông sẽ phải chiến đấu hoặc thương thuyết với họ, và đường nào thì số phận của ông và họ đã gắn liền với nhau.

Đây cũng là chiến lược trong hai nghĩa: khi nói được ngôn ngữ của đối thủ, ông có thể hiểu những khuyết điểm và ưu điểm của họ để dựa vào đó mà thiết lập phương thức chiến lược đối phó. Nhưng ông cũng có thể sử dụng nó để khiến kẻ thù mến trọng mình hơn. Tất cả mọi người từ những cai tù bình thường cho đến P.W. Botha (TT da trắng Nam Phi trong thời kỳ tách biệt chủng tộc) đều cảm kích thiện ý sử dụng ngôn ngữ Affrikaans của Mandela và sự hiểu biết của ông ta về lịch sử của người da trắng Nam Phi Afrikan. Mandela còn trau chuốt thêm kiến thức về bộ môn rugby, môn thể thao mà người Afrikan rất yêu thích, để ông ta có thể trao đổi ý kiến về các đội bóng và những cầu thủ.

Mandela hiểu rằng những người da đen và da trắng Nam Phi có nhiều điểm căn bản rất giống nhau: họ tin mình là người Châu phi chính thống như người da đen. Ông cũng hiểu rằng chính họ cũng đã từng là nạn nhân của sự kỳ thị: chính phủ Anh và những người da trắng thuộc địa đã rất xem thường họ. Người da trắng Nam Phi cũng đã chịu nhiều thiệt thòi văn hóa phức tạp mà người da đen từng trãi qua.

Là một luật sư, Mandela trong thời gian bị giam cầm đã giúp những người cai tù với những chuyện rắc rối về pháp luật của họ. Học thức và sự thoát tục đối với đời sống thường nhật của họ còn kém xa so với ông, và họ cho rằng chuyện một người da đen có đủ khả năng và thiện chí để giúp họ là một chuyện kỳ lạ phi thường. Sử gia có tiếng ở Nam Phi, Allister Sparks, đã nói rằng đó là “những nhân vật tàn nhẫn và hung ác nhất của chế độ phân biệt chủng tộc”, và Mandela “đã nhận ra rằng ông vẫn có thể thương lượng với những thành phần tồi tệ và tàn bạo nhất.”

Điều 5: Hãy giữ bạn bè thật gần, và giữ kẻ thù gần hơn.

Phần đông những khách mà Mandela mời đến căn nhà ông ta xây ở Qunu đều là những người, mà ông ta nói thẳng ra với tôi, là ông ta không hoàn toàn tin tưởng. Ông ta đã mời họ đến ăn tối, gọi họ đến để tham khảo ý kiến, làm cho họ hãnh diện và trao cho họ những món quà. Ông là một người có sự quyến rũ vô hình. Và ông thường dùng đến sự quyến rũ đó đối với đối phương hơn là đối với đồng minh.

Trên đảo Robben Island, Mandela luôn nhớ rằng ông phải tin tưởng vào cả những người ông không thích và không trông cậy vào. Một trong những người mà ông trở nên gần gũi là Chris Hani, tổng chỉ huy quân đội của QHLHCP. Có người cho rằng ông Hani đang âm mưu đối nghịch với Mandela, nhưng Mandela vẫn giữ vẻ thoải mái dễ chịu đối với ông ta. Ông Ramaphosa nói rằng “Không những chỉ Hani mà thôi, mà cả các nhà tư bản công nghiệp, các gia đình thợ mỏ, và các tay đối nghịch. Ông ta [Mandela] cứ cầm điện thoại lên và gọi họ để chúc mừng sinh nhật, tham dự những đám tang trong gia đình họ. Ông ta xem đó là những cơ hội.” Khi Mandela ra khỏi nhà tù, ông ta thường xem những cai tù của ông như bạn bè và đề cử những nhân vật lãnh đạo đã từng giam cầm ông vào thành phần nội các đầu tiên của ông. Tuy vậy, tôi biết rõ rằng ông xem thường một số trong những người đó.

Có đôi lúc ông cũng phủi tay không thân thiện với những người khác – và có lúc, như những người có sức quyến rũ khác, ông đã cho phép chính bản thân ông bị quyến rũ bởi người khác. Mandela lúc đầu đã khai triển một mối quan hệ thân mật với Tổng Thống Nam Phi F.W. de Klerk, đó là lý do sau này ông cảm thấy bị phản bội khi De Klerk công kích ông trước công chúng.

Mandela tin rằng việc giữ kẻ thù gần bên mình là một cách để điều khiển họ. Họ sẽ trở nên nguy hiểm hơn khi hành động tùy ý ở khoảng cách xa so với khi họ nằm trong vòng ảnh hưởng của ông. Ông trân quý lòng trung thành nhưng không bị mê muội vì nó. Xét cho cùng thì ông thường nói rằng: “Người ta hành động tùy theo quyền lợi của họ.” Đó đơn thuần chỉ là một thực tế về bản tính tự nhiên của con người, không phải là một khuyết điểm hay thiếu sót. Mặc trái của một người lạc quan – và ông là một người như thế – là việc tin tưởng quá nhiều vào người khác. Nhưng Mandela nhận thức được rằng cách đối phó với những kẻ ông không tin tưởng được là trung lập hóa họ bằng khả năng quyến rũ của mình.

Điều 6: Thể diện rất quan trọng, và nhớ nở một nụ cười.

Khi Mandela vẫn còn là một sinh viên nghèo ở trường luật Johannesburg trong bộ com lê xơ xác của mình, ông ta được dẫn đến để gặp Walter Sisulu. Sisulu là một chuyên viên địa ốc và là một lãnh đạo trẻ của QHLHCP. Mandela đã thấy được một người da đen thành công mà ông có thể noi theo. Còn Sisulu thì nhìn thấy được tương lai.

Sisulu nói với tôi rằng công cuộc lớn nhất mà ông ta đã theo đuổi trong thập niên 1950 là hoán chuyển QHLHCP thành một phong trào rộng lớn. Và rồi ngày hôm đó, ông ta [Sisulu] hồi tưởng lại với một nụ cười: “Một nhà lãnh đạo quần chúng bước vào văn phòng của tôi.” Mandela cao và rất bảnh trai, một võ sĩ quyền Anh nghiệp dư với phong thái sang trọng như con trai của một vị tướng. Và ông ta [Mandela] có một nụ cười như mặt trời vừa ló dạng sau một ngày mây mù.

Có nhiều lúc chúng ta đã quên đi sự liên đới lịch sử giữa khả năng lãnh đạo và diện mạo bên ngoài. George Washington (TT đầu tiên của Hoa Kỳ) là người cao nhất và khỏe mạnh nhất trong những căn phòng mà ông ta bước vào. Thể tích và sức khoẻ liên quan nhiều với DNA hơn sách dạy lãnh đạo, nhưng Mandela hiểu rõ bằng cách nào diện mạo có thể giúp thúc đẩy mục đích của ông. Là thủ lĩnh cánh quân đội du kích của QHLHCP, Mandela kiên quyết rằng hình chụp của ông cần phải được có quân phục thích hợp với một bộ râu. Trong suốt sự nghiệp chính trị của ông, Mandela luôn luôn quan tâm đến việc ăn mặc thích hợp với chức vị của mình. Luật sư của ông, George Bizos, nhớ lại lần đầu tiên ông ta gặp Mandela ở một tiệm may quần áo Ấn Độ trong thập niên 1950, Mandela là người da đen Nam Phi đầu tiên mà ông ta gặp trong một bộ com lê. Giờ đây, y phục của Mandela là một loạt nhiều chiếc áo sơ mi màu mè biểu hiện niềm hân hoan của ông với tư cách là một người cha vĩ đại của Châu Phi cận đại.

Khi Mandela tranh cử vào chức vụ tổng thống Nam Phi năm 1994, ông ta biết rằng biểu hiện tượng trưng cũng quan trọng không kém tính chất. Ông không phải là một nhà diễn thuyết đại tài trước công chúng, và khi ông nói chuyện, người ta thường lãng đi sau một vài phút đầu tiên. Nhưng người ta hiểu được hình tượng mà ông biểu hiện. Khi ông đứng trên bục diễn thuyết, ông luôn nhảy một vài nhịp to-yi to-yi, một điệu nhảy dân tộc Nam Phi tượng trưng cho sự cố gắng, vật lộn để vượt qua khó khăn. Nhưng quan trọng hơn là nụ cười sáng chói, tươi đẹp, và bao quát của ông. Đối với người da trắng Nam Phi, nụ cười ấy thể hiện lòng vị tha và nói lên sự cảm thông của ông đối với họ. Đối với cử tri da đen, nụ cười đó nói, tôi là một chiến sĩ hạnh phúc, và chúng ta sẽ chiến thắng. Tấm bích chương của QHLHCP được dán khắp nơi chỉ vỏn vẹn có gương mặt và nụ cười của ông. Ông Ramaphosa nói rằng: “Nụ cười đó chính là thông điệp.”

Sau khi ra khỏi tù, người ta cứ nhắc đi nhắc lại mãi. Thật kỳ lạ ông ấy không cảm thấy cay đắng, chua xót. Có hàng nghìn chuyện đã làm cho Nelson Mandela cảm thấy chua cay, nhưng ông biết rằng hơn tất cả những gì khác, ông cần phải biểu hiện cảm xúc trái ngược lại. Ông ta luôn nói rằng: “Hãy quên đi quá khứ!” – nhưng tôi biết rằng ông ta không bao giờ quên.

Điều 7: Không có gì là trắng hoặc đen.

Khi chúng tôi bắt đầu một loạt những cuộc phỏng vấn này, tôi thường hỏi Mandela những câu hỏi như: Khi ông quyết định đình chỉ công cuộc đấu tranh võ trang, có phải vì ông nhận ra rằng ông không đủ khả năng lật đổ chính quyền hoặc vì ông biết rằng ông có thể thắng được quan điểm thế giới bằng cách đấu tranh ôn hòa bất bạo động? Và ông ta thường nhìn tôi một cách hiếu kỳ và hỏi, “Sao không phải là vì cả hai lý do?

Tôi cũng đã bắt đầu hỏi những câu hỏi thông minh hơn, nhưng câu trả lời rất rõ ràng. Cuộc sống không bao giờ là “này-hoặc-nọ”. Mỗi quyết định đều phức tạp, và trong đó, lúc nào cũng có nhiều yếu tố tranh đua với nhau. Đi tìm một một giải đáp đơn giản là khuynh hướng của não trạng con người. Nhưng điều đó không phù hợp với thực tế. Không có gì rõ ràng cả, dù nó có vẻ như vậy.

Mandela cũng rất dễ chịu với những mâu thuẫn. Là một chính trị gia thực dụng, ông đã thấy rằng thế giới là tổng thế của vô số những nhận thức khác nhau. Tôi tin rằng nhận thức này phần đông được đúc kết từ kinh nghiệm sống của một người da đen dưới một chế độ tách biệt màu da mà trong đó, mỗi ngày là một chuỗi dài của những chọn lựa luôn dằn vặt và làm suy yếu nhân cách con người: Tôi có nên làm theo ý muốn của ông chủ da trắng để giữ lấy việc làm và tránh bị trừng phạt không? Tôi có đem giấy phép theo bên mình không?

Là một chính khách, Mandela trung thành một cách kỳ lạ với Muammar Gaddafi và Fidel Castro. Hai nhân vật này đã giúp đỡ QHLHCP khi Hoa Kỳ vẫn còn xem Mandela là một tên khủng bố. Khi tôi hỏi ông về Gaddafi và Castro, Mandela nói rằng người Mỹ có xu hướng nhìn vào sự việc theo kiểu trắng đen, và quở trách rằng tôi thiếu tri thức. Mỗi vấn đề đều có nhiều căn nguyên khác nhau. Trong lúc ông chống đối sự tách biệt chủng tộc một cách rõ ràng, không thể chối cãi, ông cho rằng nguyên nhân phía sau việc tách biệt chủng tộc rất phức tạp. Nó bao gồm các tính chất lịch sử, xã hội, và tâm lý. Cách tính toán của Mandela lúc nào cũng là: Kết cuộc mà tôi mong tìm đó là gì? Và cách thiết thực nhất để đạt được kết cuộc đó là gì?

Điều 8: Bỏ cuộc cũng là lãnh đạo.

Năm 1993, Mandela hỏi tôi rằng tôi có biết quốc gia nào có tuổi tối thiểu để cử tri có thể đi bầu ở dưới tuổi 18 không. Tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và trao cho ông ta một danh sách ngắn chẳng có gì nổi bật: Nam Dương, Cuba, Nicaragua, Bắc Hàn, và Iran. Ông ta gật đầu và khen rằng: “Rất tốt, rất tốt.” Hai tuần sau, Mandela xuất hiện trước ống kính truyền hình Nam Phi và đề nghị giảm tuổi tối thiểu người dân có thể đi bầu xuống còn 14. Ông Ramaphosa hồi tưởng lại và nói rằng: “Ông ta [Mandela] cố thuyết phục chúng tôi về đề nghị đó, nhưng ông ta là người [ủng hộ] duy nhất. Và ông ta đã phải đối diện với sự thật rằng lời đề nghị này sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Ông ta đón nhận sự thật này bằng tất cả sự khiêm tốn của mình. Ông ta không hờn dỗi. Đó cũng là một bài học trong tài năng lãnh đạo.”

Biết bỏ rơi một sáng kiến thất bại, một công việc, hay một mối quan hệ đúng cách thông thường là một quyết định khó khăn nhất mà một lãnh đạo phải làm. Bằng nhiều cách, di sản to lớn nhất mà Mandela đã để lại khi ông là tổng tống của Nam Phi là cách ông bỏ rơi chức vụ đó. Khi ông được bầu làm tổng thống vào năm 1994, ông có thể trở thành tổng thống suốt đời – và nhiều người nghĩ rằng để bù lại những năm tháng mà ông đã phải chịu cảnh tù tội, đó là việc tối thiểu mà Nam Phi có thể làm.

Trong lịch sử của Châu Phi, chỉ có một số ít các nhà lãnh đạo được bầu lên một cách dân chủ chịu tự ý rời bỏ chức vụ. Mandela kiên quyết làm tấm gương đi trước để mọi người có thể noi theo. Không những chỉ ở Nam Phi mà ở tất cả các quốc gia Châu Phi. Ông sẽ là nhà lãnh đạo khác biệt với Mugabe (người đứng đầu chính phủ Zimbawe kể từ năm 1980). Ông sẽ là người hồi sinh một quốc gia và từ chối không giữ lấy nó làm con tin. “Trách nhiệm của ông ấy [Mandela] là định ra một hướng đi,” ông Ramaphosa nói, “không phải để lèo lái cả con tàu.” Mandela biết rằng các nhà lãnh đạo không những lãnh đạo bằng những chuyện họ chọn để làm, mà họ cũng lãnh đạo bẳng cả những chuyện họ đã chọn không làm.

Rốt cuộc thì chìa khóa để hiểu được Mandela nằm ở khoảng thời gian 27 năm ông bị giam cầm. Người đàn ông bước vào đảo Robben Island năm 1964 là một người có nhiều cảm xúc, ương nghạnh, và dễ bị đâm thọc. Người đàn ông bước ra là một người biết cân nhắc và có kỷ luật. Mandela không phải và sẽ không bao giờ là một người hay tự xem xét nội tâm. Tôi cũng hay hỏi ông ta rằng người đàn ông bước ra khỏi nơi giam cầm ấy khác với người thanh niên có chủ tâm bước vào tù năm xưa như thế nào. Ông ta rất ghét câu hỏi này. Cuối cùng thì một ngày nọ trong sự bực bội, ông ta trả lời “Khi trở ra, tôi là một người trưởng thành.” Không có gì hiếm hoi, và quý giá, hơn một người đàn ông trưởng thành. Chúc mừng sinh nhật, Madiba!

Richard Steingel

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: